Đường lên HIMALAYA

Hoàng Hưng  

Với ưu thế tám trăm cây số biên giới phía bắc là vùng dễ dàng nhất thế giới để leo lên dãy Himalaya, mỗi năm Nepal không chỉ hấp dẫn hàng ngàn nhà leo núi chuyên nghịêp (mountaineer) ôm mộng chinh phục 14 đỉnh cao trên 8000m, trong đó có ngọn Everest (88846m), mà còn cả mấy trăm ngàn khách du lịch hăm hở “trekking” theo những con đường núi lên đến độ cao dưới 5000m.

Tối hôm ấy, trong quán ăn Tây Tạng, quán ăn duy nhất ở Kathmandu (thủ đô Nepal) có những món tạm coi là hợp khẩu vị, có tiếng chào từ bàn bên: cô gái trẻ người Singapore mà chúng tôi đã gặp ở Nagarkot đang ngồi soạn một vốc đồ ăn khô các loại. Thì ra ngày mai cô lên đường “trekking”. Đi một mình 15 ngày, với một anh khuân vác người địa phương giá thuê cực rẻ: 300 rupi (khoảng 60.000 VNĐ)/ngày. “Không nguy hiểm gì sao?” Đáp lời tôi là một tiếng cười đầy tự tin.

Cuộc gặp tình cờ ấy đã đưa đến quyết định tự tìm đường lên Himalaya của vợ chồng tôi.

HIma1
Làng Namche Bazar trên Himalaya

Từ Kathmandu, chiếc máy bay cánh quạt nhỏ đưa khách leo núi đến Lukla sau hơn nửa giờ bay. Lukla tiếng địa phương có nghĩa là Nơi nhiều dê, cừu, song từ khi Sir Edmund Hillary, người đầu tiên cắm cờ trên đỉnh Everest năm 1953 có sáng kiến xây một sân bay dã chiến ở đây, Lukla trở thành một thị tứ có vài con đường đá đầy nhà trọ. Ở độ cao 2840m của dãy Himalaya, nó là cửa ngõ Vườn Quốc gia Sagarmantha.  Sagarmantha là tên người dân địa phương gọi đỉnh Everest, có nghĩa là “Trán Trời” trong tiếng Nepal (trong khi Tây Tạng thì gọi là Chomolungma: Thần Mẹ). Cho đến nay, Nepal vẫn đang ra sức đấu tranh cho việc công nhận tên Sagarmantha thay cho tên Everest có từ thời thực dân Anh (lấy tên giám đốc cơ quan bản đồ thuộc địa India Bengal là Georges Everest).

Bước xuống sân bay, chúng tôi đã ngây ngất giữa hai trái núi tuyết lộng lẫy trong nắng. Không phí thời gian, sau bữa trưa nhẹ trong một lữ quán ngon lành được giới thiệu trước từ Kathmandu, chúng tôi lập tức ba lô lên đường. Hai chúng tôi chỉ có một ba lô đựng hai bộ quần áo thay đổi và một ít lương khô, mì tôm, bánh kẹo, riêng bình nước nóng thì “đúng tiêu chuẩn leo núi” và một lọ mứt dâu tây vợ tôi làm sẵn từ Kathmandu, không phải những trang bị leo núi và lều trại nặng hàng tạ của cánh “mountaineer”, nên người ta dẫn đến một “lão sherpa” mặt nhăn nhúm như quả táo tàu (trông thế chứ “lão” còn kém tôi mười tuổi). Ông “sherpa” chỉ biết vài câu tiếng Anh thông dụng, giống như hàng ngàn người dân ở vùng núi này đã trở nên những mắt xích lớn nhỏ của ngành du lịch 50 năm sau khi đỉnh Sagarmantha được chinh phục bởi một người Anh và một người địa phương. Sherpa vốn là tên dân tộc bản địa dần dần hoá thành danh từ chỉ những người dẫn đường kiêm khuân vác trong từ vựng của ngành du lịch. Đến lúc ra khỏi thị tứ Lukla, gặp những tốp “trekking” đủ quốc tịch – riêng châu Á chỉ thấy người Hoa từ Đài Loan, Singapore và người Nhật, thì tôi thấy mình thiếu một vật dụng thiết yếu: đôi gậy leo núi. Ông sherpa ra hiệu yên tâm. Ông trèo ngay lên sườn đồi, bẻ ngoéo hai cái cây to bằng dóng tre, rút dao phạt phạt rất nhanh, chúng tôi có ngay hai cây gậy cầm rất gọn tay. Kể ra thì chẳng giống ai giữa hàng trăm người trang bị hiện đại, với những đôi gậy kim loại sáng loáng, nhưng suốt chuyến đi, hai cây gậy núi đã giúp chúng tôi nhiều lần thoát trượt chân té, có khi ngay mé vực sâu.

Hima2
Núi tuyết trong nắng vàng

Đời tôi chưa bao giờ phải trèo liên tục và quá sức đến thế. Khi thì lên dốc xuống đèo năm bảy đợt. Khi thì leo hai giờ liền để vượt một con đèo. Nhưng không thể không tuân thủ hành trình nếu không muốn ngủ giữa rừng. Sức yếu như chúng tôi cũng phải bảo đảm 5 giờ leo mỗi ngày. Cứ thế liên tục 7 ngày thì đến chân núi Sagarmantha. Chúng tôi không định trước điểm đến, ở tuổi này thì chả có gì phải “cố đấm”, nên tùy theo tình hình sức khoẻ mà đặt chương trình tiếp, và đang leo cứ thấy mệt là ngồi xuống nghỉ. Nghe theo lời ông sherpa, chúng tôi vừa trèo vừa thở hít từng hơi dài, mỗi hơi thở ứng với một câu tụng “Om mani padme hum”. Nhà tôi quả quyết là tụng như thế rất đỡ mệt, chắc cũng giống như các bà các cụ ở nhà ta tụng “Nam mô A Di Đà Phật” khi leo núi chùa Hương hay Yên Tử . “Om mani padme hum” là câu chú căn bản của tín đồ Phật giáo Tây Tạng, nghĩa đen là “ngọc quí trong hoa sen”, nhưng âm thanh của nó có những tác động kỳ diệu không giải thích được. Trong chuyến đi hành hương qua nhiều vùng ở ấn Độ, Nepal, chúng tôi đã gặp nhiều người cầm cái chuông quay bên trong là băng giấy có dòng chữ phạn ấy, vừa đi vừa quay cũng có tác dụng như vừa đi vừa đọc. ở đầu những ngôi làng Sherpa trên núi Himalaya, bao giờ chúng tôi cũng gặp một đền thờ Phật treo chuông quay như thế, có khi là một vòng mấy chục quả chuông quay nhỏ, khi thì nguyên một quả chuông quay lớn bằng cả gian thờ, bất cứ  ai đi qua đều vào quay chuông theo chiều kim đồng hồ và niệm chú để được bình an. Lại có các đống đá xếp thành hòn núi nhỏ, trên các viên đá khắc dòng chữ phạn “Om mani…” tô màu xanh đỏ vàng. Người Sherpa chịu ảnh hưởng căn bản văn hoá Tây Tạng, chính cái tên Sherpa cũng có nghĩa là “từ phía đông tới”. Làng Sherpa xinh xắn, sạch sẽ, với những ngôi nhà hai tầng xếp đá rất tinh khéo, tô điểm đẹp mắt, nhiều nhà biến thành quán ăn, quán trọ tiện nghi cho du khách. ở làng Phakding, có cả mấy ông Tây làm đồ mộc, mở lò bánh. Du lịch đã biến đổi vùng núi cao này đến thế nào. Bộ mặt văn minh thấy rõ ở những cầu cáp treo lót bằng thép tấm bắc qua những vực thác trắng réo gào dưới sâu hàng trăm mét, cả đàn trâu núi jobjiơk thồ mỗi con hàng tạ nối đuôi nhau đi qua như không. Có điều những nét văn minh ở đây không hề phá cảnh quan thiên nhiên hoang dã tuyệt đẹp, chứng tỏ một trình độ nhận thức cao của người dân địa phương. Mọi việc trở nên dễ hiểu khi tôi biết trong số các chủ quán trọ mà chúng tôi ngủ lại, có những người đã từng xuống thủ đô kinh doanh nhà hàng đến chục năm rồi mới trở về làng, có người đã sang tận Mỹ học nghề du lịch.

Hima3
Trâu và người

Đối với tôi, cảnh núi rừng Himalaya chẳng khác gì vườn địa đàng. Đứng giữa bãi đá cạn của dòng sông Brote, nhìn lên hai bờ vực, ba tầng của Himalaya tiếp nhau nâng hồn ta đến thiên đường. Tầng thứ nhất là rừng thông ngàn năm xanh ngắt. Tầng thứ hai là núi đá trập trùng. Trên cao tít là núi tuyết trắng uy nghi, bí mật. Núi tuyết có sức hút kỳ lạ làm sao; mỗi lần thấm mệt, thay vì tụng “Om mani…” như bà xã khuyên, tôi chỉ cần ngước lên nhìn nó, tự nhiên như cảm thấy một luồng khí mát lạnh tuôn xuống người mình. Không biết có phải đó là một biểu hiện rất cụ thể của thứ “khí hạo nhiên” mà dãy núi cao nhất thế giới tích tụ như tôi thường đọc trong sách vở? Khi chiều xuống, núi tuyết rực màu vàng kim, rồi chuyển màu hồng như ánh lửa, cả một vùng trời trở nên huyền ảo vì phản quang của tuyết nhuộm nắng chiều. Cả một đoàn nhiếp ảnh Nhật Bản như bị hút hồn, họ dựng những chiếc chân máy, đứng hàng tiếng đồng hồ để ghi từng biến chuyển sắc màu của hoàng hôn Himalaya. Quả là một giấc mơ có thật. Cảnh tượng ấy đã khiến người Tây Tạng tưởng tượng ra cả một thế giới siêu nhiên có tên là Shambala, nơi trú ngụ của các bậc thần tiên, họ chỉ xuất hiện để cứu nguy khi loài người bị hoạ diệt vong.

Đến gần những ngôi làng trên lưng núi, chúng tôi luôn phải thốt lên sung sướng vì  lạc vào rừng hoa. Đang giữa mùa xuân, hoa anh đào, hoa mơ, hoa đào dại… bung nở, từ trắng, hồng đến đỏ thắm. Bên sườn núi là những cây laliguras đơm đầy hoa to như hoa trà. Dưới mặt đất, các bãi hoang là cả một triền hoa dại màu xanh biếc mỏng manh như hoa thuỷ tiên, tôi bỗng tự nhủ mình: “Nếu như mình nằm xuống giữa đồng hoa này mà không dậy nữa thì thật là hạnh phúc”.

Hima4
Trẻ em Himalaya

Đến Namche Bazar, thị trấn trung tâm của Vườn Quốc gia, chúng tôi đã có thể nhìn thấy ngọn Sagarmantha phía xa tít. Trong phòng ăn ấm cúng xung quanh lò lửa của Namche Hotel, mấy câu đối thoại tiếng Pháp làm ông Jean Clemenson lập tức trở thành bạn của chúng tôi. Ông già 66 tuổi vận quần xoọc giữa cái lạnh đầu xuân Himalaya làm tôi kính nể. Hình như mọi  du khách và dân chúng ở thị trấn này đều biết ông. Ông đã ở Namche được một tháng để chuẩn bị cho chuyến chinh phục Everest lần thứ sáu của mình. Ông thật thà bộc lộ: “Tôi bắt đầu ôm mộng từ chuyến sang Nepal đầu tiên cách đây 50 năm. Kể từ đó, không tính những lần chinh phục ngọn Pumo Ri (7165m), Ama Dablan (6856m), tôi đã năm lần leo lên Everest nhưng… chưa lần nào thành công. Tôi quyết thử vận thêm một lần nữa.”

Jean hăng hái dẫn lối cho chúng tôi lên lưng đồi Namche, đúng chỗ nhìn thẳng tới ngọn Sagarmantha. It khi nào tôi thấy mình hồi hộp, rộn rã như thế.  Các quả núi bình phong của Núi Chúa: Taboche, Nuptse, Lotse, Ama Dablam đều hiện rõ, mà Núi Chúa vẫn ẩn mình sau đám mây mù. Jean động viên tôi: “Cứ chịu khó chờ đi, kìa một cơn gió mạnh đang thổi bạt mây”. Tôi nín thở. Một cái chóp hình tam giác lóng lánh như kim cương nhô lên sau tấm vai ngang của dãy Nuptse. Bên trên cả một vương quốc trắng tinh, ngọn Sagarmantha tức Everest, tức Chomolungma không chút tuyết bám, phơi trần trụi màu đen huyền hoặc…

Hima5
Đồng hoa dại

Hoàng Hưng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s