Nelly Sachs: nhà thơ nữ đoạt Giải Nobel của Thụy Điển

Nelly Sachs (1891 – 1970), nhà thơ, nhà viết kịch Thụy Điển gốc Đức-Do Thái. Những trải nghiệm khởi từ thời hưng thịnh của Đức Quốc xã trong Thế Chiến II, đã khiến bà biến thành nữ phát ngôn nhân cho những đau thương của dân Do Thái. Tiêu biểu là những vở kịch Eli: Ein Mysterienspiel vom Leiden Israels (1950); các bài thơ “Zeichen im Sand” (1962), “Verzauberung” (1970), và các tập thơ In den Wohnungen des Todes (1947), Flucht und Verwandlung (1959), Fahrt ins Staublose (1961), and Suche nach Lebenden (1971). Bà được trao giải Nobel Văn chương năm 1966.

Nelly Sachs trốn chính quyền Quốc xã sang Thụy Điển vào năm 1940, vừa kịp thoát khỏi tai họa bị đưa vào trại tập trung. Tình bạn vong niên với vàn hào Thụy Điển Selma Lagerlöf đã giúp bà được Hoàng gia Thụy Điển cưu mang, và bà trở thành công dân nước này từ năm 1952.

Bản tính dụt dè, thường bị ám ảnh, ảo giác, hoang tưởng, nhất là sau cái chết của người thân duy nhất là bà mẹ già mà bà đưa sang Thụy Điển, Sachs luôn sáng tác và dịch thuật văn chương trong tình trạng yếu thần kinh, ngay cả trong thời gian điều trị tại một bệnh viện tâm thần.

Nelly sachs

 

Mấy bài thơ

(HOÀNG HƯNG chuyển tiếng Việt qua bản tiếng Pháp của Lionel Richard)

 

Hỡi những ống khói

 

Hỡi những ống khói

Mọc trên những ngôi nhà mà cái chết tạo dựng thật công phu

Khi thân xác Israel

Cuộn lên trời thành khói!

Và ngôi sao xạm đen

Kẻ thông ống khói đón nhận người

Nếu không phải là một tia nắng!

 

Hỡi những ống khói!

Những con đường tự do cho tro bụi của Jeremie và Job!

Ai người sáng tạo và xây nên bằng từng viên đá

con đường dành cho những làn khói thoáng qua này?

 

Hỡi những ngôi nhà chết chóc

Được sắp xếp quyến rũ làm sao

Cho chủ nhà, mà hóa ra là khách

Hỡi những ngón tay

Chặn ngưỡng cửa vào nhà

Như lưỡi dao giữa hai bờ sống chết

 

Hỡi những ống khói

Hỡi những ngón tay

Và thân xác Israel dâng lên trời thành khói!

 

 

Gửi người xây lại nhà ở

 

Nếu bạn xây mới lại những bức tường

làm lại bếp lò, nệm chăn và bàn ghế

thì xin đừng treo vào đá hay vào gỗ

những giọt lệ rơi vì kẻ đã ra đi,

những người không còn ở cùng bạn.

Kẻo mà những tiếng khóc sẽ nhập vào giấc ngủ

giấc ngủ mong manh bạn phải ngủ cho xong.

 

Xin đừng rên khi giắt tấm khăn giường

Kẻo những giấc mơ của bạn

sẽ trộn lẫn mồ hôi người chết

 

Ôi những bức tường, những dụng cụ trong nhà

nhạy cảm như cây đàn hạc gió

Và giống như cánh đồng mọc lên đau khổ,

trên mình bạn chúng đánh hơi thấy mùi bụi bặm

khiến bạn trở nên thân thuộc họ hàng

 

Hãy xây nhà theo nhịp chảy của đồng hồ cát

Nhưng xin đừng thương khóc những phút giây

bay đi mất cùng bụi bặm kia

thành mặt nạ phủ ngoài ánh sáng

 

 

Lời đứa trẻ đã chết

 

Mẹ dắt tay em

Khi ấy có người giơ lên con dao ly biệt

Mẹ buông tay em ra

Để lưỡi dao không chạm vào em

Nhưng vẫn thêm một lần mẹ vuốt nhẹ lưng em

Và tay mẹ ròng ròng máu chảy

 

Ngay lúc ấy con dao ly biệt cắt ngang

Miếng ăn của em nằm trong cổ họng

Con dao lên cao cùng mặt trời

Và bắt đầu mài trong mắt em

Bên tai em mài sắc gió và nước

Giọng nói vỗ về đâm thẳng tim em

 

Khi họ đưa em đến cõi chết

Phút cuối cùng em còn cảm thấy

Mênh mông con dao ly biệt mà người ta nhổ lên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HOÀNG HƯNG chuyển tiếng Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HHEBOOKS 2017

 

 

 

 

NELLY SACHS

 

 

Nelly Sachs (1891 – 1970), nhà thơ, nhà viết kịch Thụy Điển gốc Đức-Do Thái. Những trải nghiệm khởi từ thời hưng thịnh của Đức Quốc xã trong Thế Chiến II, đã khiến bà biến thành nữ phát ngôn nhân cho những đau thương của dân Do Thái. Tiêu biểu là những vở kịch Eli: Ein Mysterienspiel vom Leiden Israels (1950); các bài thơ “Zeichen im Sand” (1962), “Verzauberung” (1970), và các tập thơ In den Wohnungen des Todes (1947), Flucht und Verwandlung (1959), Fahrt ins Staublose (1961), and Suche nach Lebenden (1971). Bà được trao giải Nobel Văn chương năm 1966.

Nelly Sachs trốn chính quyền Quốc xã sang Thụy Điển vào năm 1940, vừa kịp thoát khỏi tai họa bị đưa vào trại tập trung. Tình bạn vong niên với vàn hào Thụy Điển Selma Lagerlöf đã giúp bà được Hoàng gia Thụy Điển cưu mang, và bà trở thành công dân nước này từ năm 1952.

Bản tính dụt dè, thường bị ám ảnh, ảo giác, hoang tưởng, nhất là sau cái chết của người thân duy nhất là bà mẹ già mà bà đưa sang Thụy Điển, Sachs luôn sáng tác và dịch thuật văn chương trong tình trạng yếu thần kinh, ngay cả trong thời gian điều trị tại một bệnh viện tâm thần.

 

 

(HOÀNG HƯNG chuyển tiếng Việt qua bản tiếng Pháp của Lionel Richard)

 

 

 

 

Hỡi những ống khói

 

Hỡi những ống khói

Mọc trên những ngôi nhà mà cái chết tạo dựng thật công phu

Khi thân xác Israel

Cuộn lên trời thành khói!

Và ngôi sao xạm đen

Kẻ thông ống khói đón nhận người

Nếu không phải là một tia nắng!

 

Hỡi những ống khói!

Những con đường tự do cho tro bụi của Jeremie và Job!

Ai người sáng tạo và xây nên bằng từng viên đá

con đường dành cho những làn khói thoáng qua này?

 

Hỡi những ngôi nhà chết chóc

Được sắp xếp quyến rũ làm sao

Cho chủ nhà, mà hóa ra là khách

Hỡi những ngón tay

Chặn ngưỡng cửa vào nhà

Như lưỡi dao giữa hai bờ sống chết

 

Hỡi những ống khói

Hỡi những ngón tay

Và thân xác Israel dâng lên trời thành khói!

 

 

Gửi người xây lại nhà ở

 

Nếu bạn xây mới lại những bức tường

làm lại bếp lò, nệm chăn và bàn ghế

thì xin đừng treo vào đá hay vào gỗ

những giọt lệ rơi vì kẻ đã ra đi,

những người không còn ở cùng bạn.

Kẻo mà những tiếng khóc sẽ nhập vào giấc ngủ

giấc ngủ mong manh bạn phải ngủ cho xong.

 

Xin đừng rên khi giắt tấm khăn giường

Kẻo những giấc mơ của bạn

sẽ trộn lẫn mồ hôi người chết

 

Ôi những bức tường, những dụng cụ trong nhà

nhạy cảm như cây đàn hạc gió

Và giống như cánh đồng mọc lên đau khổ,

trên mình bạn chúng đánh hơi thấy mùi bụi bặm

khiến bạn trở nên thân thuộc họ hàng

 

Hãy xây nhà theo nhịp chảy của đồng hồ cát

Nhưng xin đừng thương khóc những phút giây

bay đi mất cùng bụi bặm kia

thành mặt nạ phủ ngoài ánh sáng

 

 

Lời đứa trẻ đã chết

 

Mẹ dắt tay em

Khi ấy có người giơ lên con dao ly biệt

Mẹ buông tay em ra

Để lưỡi dao không chạm vào em

Nhưng vẫn thêm một lần mẹ vuốt nhẹ lưng em

Và tay mẹ ròng ròng máu chảy

 

Ngay lúc ấy con dao ly biệt cắt ngang

Miếng ăn của em nằm trong cổ họng

Con dao lên cao cùng mặt trời

Và bắt đầu mài trong mắt em

Bên tai em mài sắc gió và nước

Giọng nói vỗ về đâm thẳng tim em

 

Khi họ đưa em đến cõi chết

Phút cuối cùng em còn cảm thấy

Mênh mông con dao ly biệt mà người ta nhổ lên

 

 

 

 

Đã ghì ôm

 

Cánh tay đã ghì ôm niềm an ủi trên trời

Người mẹ điên đứng thẳng

Tả tơi lý trí bị xé

Bùi nhùi lý trí bị thiêu

Bà đặt vào áo quan đứa con đã chết

Bà đặt vào áo quan ánh sáng đã mất

Khum hai bàn tay làm chiếc vại

Rót vào đó cái trống không – thân xác con mình

Rót vào đó cái trống không – mắt mình tóc mình

Và trái tim mình trồi sụt

 

Rồi ôm ấp đứa con sinh ra từ trống không

Và chết!

 

 

Các anh những người chứng

 

Các anh những người chứng

dưới ánh mắt của những người bị ám sát

như cảm thấy ai nhìn vào lưng mình

các anh cảm thấy

ánh mắt của những người chết

 

Có bao nhiêu đôi mắt hấp hối sẽ nhìn vào mặt các anh

khi các anh hái một bông hoa lúc rời nơi ẩn náu?

Có bao nhiêu bàn tay giơ lên van xin

trong những nhánh cành tuẫn tiết quấn quit

của những cây sồi già?

Nặng bao nhiêu kỷ niệm mọc lên từ bãi máu

của hòang hôn?

 

Hỡi những bài hát ru không thành lời

trong tiếng chim cu kêu giữa đêm.

Lẽ ra nó có thể gọi sao trời sa xuống

Bây giờ thì chính bồn nước già nua

phải làm thay cho nó!

 

Các anh những người chứng

đã không đưa lên bàn tay giết người

nhưng không xua tan nỗi buồn nhớ

những hạt bụi

Các anh vẫn ở đó nơi bụi đã biến hình

thành ánh sáng

 

 

 

Khi ngày ló dạng

 

Khi ngày ló dạng

Một chú chim gióng lời báo thức

Mở ra giờ phút buồn nhớ bụi tro

Mà cái chết bỏ quên.

Hỡi giờ phút của những sự sinh thành

Giờ phút rên la của những cuộc tra tấn, giờ phút hình thành

Chiếc xương sườn đầu tiên của một con người mới

 

Anh yêu ơi, nỗi buồn nhớ tro bụi của anh

Xuyên trái tim em dữ dội

 

Lò ẩn ngữ 

(trích một số trong các đoạn thơ)

 

Đêm nay

tôi quành góc một con phố gần bên

tăm tối

Thì trên vai tôi chiếc bóng của tôi

tì xuống

Chiếc áo mỏi mệt ấy

muốn được ta mặc vào

Và màu sắc hư vô thì tuyên bố với tôi rằng:

Cô ở bên kia đó!

 

 

Tôi đi đi lại lại

trong nóng bức căn phòng

Những thằng điên trong phòng treo áo rống lên

cùng lũ chim đen bên ngoài

về đề tài tương lai

Những vết thương của chúng ta khiến thời buổi nhọc nhằn

nhưng những chiếc đồng hồ tiến lên chậm chạp…

 

 

 

Sự nhàn cư

sự héo hon dễ thấy

Hai bàn tay tôi thuộc về một cú vỗ cánh bí mật

Tôi sử dụng bàn tay để khâu một cái lỗ

nhưng chúng rên la trên bờ vực mở ra…

 

 

 

Tôi giặt quần áo

Sự hấp hối bội lần hát trong áo tôi

khúc đối vị về cái chết khắp đó đây

Bọn bức hại đã dùng thuật thôi miên

để luồn nó vào sợi dệt

và miếng vải ngủ mơ thuận tình nhận lấy

 

 

 

 

 

Ánh đèn chùm xuyên vào câu thơ tối tăm

Treo cờ lý trí

Tôi phải đi tìm chính trong nỗi khiếp sợ

Nơi khác kia là cái ta tìm ra

 

 

 

Đằng sau cánh cửa

anh giật sợi dây buồn nhớ

cho đến khi nước mắt về

Và anh tự soi mình trong dòng suối ấy…

 

 

 

Ở đây chúng ta bện một vòng hoa

Có những người mang hoa tím choáng mắt

Tôi thì tôi chỉ có một túm cỏ thôi

mang đầy lời im lặng

khiến nổ bùng bầu không khí nơi đây…

 

 

 

 

 

 

Chỉ có cái chết làm bật ra sự thật về những lời kêu than của họ

điệp khúc này phải giật ra từ đêm đen

những bài tập lưỡi

ở tận cùng những cây đàn orgue của âm thanh

 

 

 

Bức điện văn này đo bằng những phép tính của quỷ dữ

những vùng của thân thể tôi

nơi dâng lên âm nhạc nhạy cảm

Một thiên thần dựng lên từ những nguyện ước của tình yêu

chết và sống lại trong những tính cách

mà tôi du hành qua…

 

 

 

Nếu từ nay cô vô vọng gọi cái tên độc nhất này

trong bóng đêm…

 

Xin hãy chờ một lúc nữa…

và cô lang thang trên biển

Nước đã thấm vào các lỗ chân lông

cô sẽ được nhào xuống dâng lên

và mau chóng thấy cô trên cát

và cô sẽ là vị khách được đợi chờ bay lên tinh tú

và cô sẽ được thiêu tan trong ngọn lửa tái ngộ

một cách lặng lẽ… lặng lẽ…

 

 

 

Bị mở tung, thời gian

trên mã não mặt anh

Cơn giông khuya đến gần sáng quắc

nhưng cầu vồng

ở đằng sau đã giương màu sắc

trên những dải băng an ủi…

 

 

 

Những kẻ sống sót đã chiếm lấy thời gian

cho đến khi còn lại bụi vàng trong tay họ

Họ ca hát Mặt trời… Mặt trời!

Nhưng nửa đêm với con mắt đen

bị  phủ bằng vải liệm…

 

 

 

Cách ly không một tiếng động

cánh đồng nhung

đầy ý nghĩ hoang dại

bị màu đỏ và màu xanh bỏ mặc

màu tím lấn át

mà tiếng khóc của cô đã tạo ra

từ nỗi run sợ dịu dàng của đôi mắt…

 

 

 

Cô đã mất tên

nhưng thiên hạ chạy tới

để tặng cho cô sự lựa chọn tuyệt vời

Cô lắc đầu quầy quậy

nhưng một hôm người yêu cô đã tìm thấy cho cô

cái kim trong đống rơm

Hãy nghe kìa: anh ta gọi đấy…

 

 

 

 

 

 

BOYE KARIN

 

 

BOYE, Karin (1900-1941) có lẽ là một trong số những nhà thơ Thụy Điển có nhiều độc giả nhất trong thế hệ liền trước Thế chiến II.  Karin Boye sinh ở Gothenburg trong một gia đình khá giả, năm bà lên chín thì gia đình dọn lên Stockholm. Bà trở thành giáo viên, rồi nghiên cứu tiếng Hy Lạp, các thứ tiếng Bắc Âu, và văn học. Năm 1922 bà xuất bản tập thơ đầu tay của mình Moln (Những áng mây). Từ 1927 bà tham gia nhóm biên tập của tạp chí có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa quan trọng mang tên Clarté (Ánh sáng). Có thể miêu tả thơ của Boye là nghiêm nhặt về hình thức, thuần khiết về nội dung với thông điệp mang tính hiện sinh, phổ quát. Những tác phẩm đầu tiên của bà có phần chịu ảnh hưởng của triết học Nietzsche, mang tính lý tưởng một cách mạnh mẽ, gần như cao giọng kêu gọi một mẫu người mới và hiện đại, tự do và khẳng định về tính dục. Boye là người ái nam ái nữ và đồng tính ái, và khó khăn trong việc phối kết giữa chủ nghĩa lý tưởng với sự khẳng định quyền tính dục kia có lẽ đã trở thành vấn đề lớn nhất của đời bà. Thơ bà thậm chí có thể được coi như nơi chốn mà ở đó những mâu thuẫn, ước muốn, lý tưởng và những xúc cảm bị cấm đối đầu với nhau trong một hình thức bền vững hơn, nếu không nói là hài hoà. Nhịp điệu ương ngạnh trong những tác phẩm đầu đời dần dà nhường chỗ cho câu thơ tự do hơn và một nội dung bớt lộ liễu. Karin Boye tự vẫn vào năm 1941. Ở bên ngoài thư viện thành phố Gothenburg, có một bức tượng bằng đồng đen của nhà thơ do Peter Linde tạc năm 1987, trong bàn tay bức tượng lúc nào cũng có một bông hoa mà ai đó cắm vào.

 

 

 

 

 

 

 

(HH chuyển ngữ theo bản tiếng Anh của ERIK BERGQVIST)

 

 

Kẻ không tên

 

 

 

 

 

 

 

Nhiều cái làm ta đau mà chẳng có tên.

Tốt nhất là lặng im mà nhận tất

 

Rất nhiều bí mật, với hiểm hoạ vô danh

Tốt nhất là cung kính mà chịu đựng

 

Tốt nhất là tin chắc ở điều bí mật

Và không chọc chỉa những hạt mầm đang lên

 

“Ở đây tư tưởng chẳng bao giờ bước ra tìm kiếm

Xin tất cả các bà mẹ dẫn đường khích lệ cho con!”

 

Hãy để ý nghe tiếng mẹ thân gần  –

sự quan tâm không lời nhận được nỗi hân hoan không tiếng nói

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những vì sao

 

 

 

 

 

 

 

Giờ đây là hết. Giờ đây tôi tỉnh thức.

Thật bình tâm và thật dễ ra đi,

khi chẳng còn gì để mà mong đợi

và chẳng còn gì để phải khổ đau.

 

Hôm qua đỏ rực vàng kim hôm nay lá chết

Ngày mai sẽ chẳng còn gì

Nhưng khắp xung quanh những vì sao im lặng cháy

trên trời cao đêm nay cũng như mọi đêm xưa

 

Giờ đây tôi muốn cho hết mình đi,

không còn lại mảy may mảnh vụn.

Hãy nói đi sao ơi, các người có nhận

một linh hồn đã mất hết ngọc châu?

 

Với các người là tự do nguyên vẹn

trong thanh bình vĩnh cửu xa xôi

Chẳng bao giờ anh ta thấy được

ai trao cho các người cuộc chiến và mơ mộng của anh đâu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nữ chiến binh

 

 

 

 

 

 

Đêm qua em mơ tới gươm đao

Đêm qua em mơ về trận mạc

Em mơ thấy mình chiến đấu bên anh

mạnh mẽ đêm qua trong trụ giáp

 

Chớp xẹt từ tay anh dữ dội

và lũ khổng lồ ngã dưới chân anh

Hàng ngũ ta sát cánh và ca hát

trong bóng đêm đe doạ im lìm

 

Đêm qua em mơ thấy máu hồng

Đêm qua em mơ về chết chóc

Em mơ thấy mình ngã xuống bên anh

với một vết thương đêm qua chí tử

 

Anh chẳng hề để tâm em ngã

Miệng anh là cả sự nghiêm trang

Tấm khiên trong tay cầm chắc

và anh cứ thẳng tiến trên đường

 

Đêm qua em mơ lửa cháy

Đêm qua em mơ thấy những bông hồng

Em mơ mình chết tốt lành

Đêm qua em mơ thế đấy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lời cô gái hư

 

 

 

 

 

 

 

 

Em mong anh có một đêm hư hỏng

Em mong anh nằm thức trắng như em

và cảm thấy vui kích động lạ lùng

và chóng mặt lo âu cực kỳ điên đảo

 

và đột nhiên anh hối hả

nằm xuống ngủ say như chết rồi

Em mong anh ngủ lâu hơn anh tưởng…

Em mong anh không chớp mắt một lần

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biển

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mặn, mặn đắng

là biển, lạnh và trong

Dưới sâu kia nhiều thứ mủn rữa đi

nhưng biển tảy sạch tất cả.

Hoang dại, hoang dại như con thú bị săn

là cú nhảy lấp lánh của sóng,

nhưng không có tư tưởng nào của con người

cao hơn bài ca của lòng biển thẳm.

Mạnh mẽ, vĩnh hằng và mạnh mẽ

là chuỗi sóng bao la,

và mạnh mẽ với biển vĩnh hằng

mỗi con sóng qua nhanh, mềm mại.

Dù biển đòi máu của tình lang,

hãy dâng đời anh cho biển.

Cuối cùng, nằm sâu trong lòng biển thẳm,

chẳng ai được an nghỉ như anh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ở không yên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày no đầy không phải ngày số một

Ngày đẹp nhất là ngày thèm khát

 

Vâng, đường ta đi có nghĩa lý, mục tiêu –

nhưng con đường chính là giá trị của cần lao

 

Mục tiêu đẹp nhất là một đêm dài yên nghỉ,

ngủ an bình, giấc mơ đầy tiếng hát.

 

Nhổ trại thôi, nhổ trại thôi! Ngày mới sáng lên rồi

Cuộc phiêu lưu của chúng ta không có chân trời

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thế giới là trong mơ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thế giới là trong giấc mơ một vị thần đang ngủ,

và bình minh run rảy cả hồn ông.

Những ký ức của ngày hôm trước,

trước khi thế giới tạo thành,

cứ ám ảnh, cứ lấp lánh.

Cái mà ta không có phần trong nó

lại gặp ta vào lúc đường quành,

nó thở ra sự hãi hùng không phải của ta,

từ những biên giới xa xôi,

từ những thế giới có các quy luật khác.

Hãy ngủ đi, hãy ngủ sâu hơn, hỡi kẻ đang say ngủ,

cho đến khi không còn trằn trọc vì mơ,

hay là thức dậy với ánh ngày, hỡi người sáng tạo,

và làm cho mình có thực đi nào!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giờ ấy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không bầu trời đêm hè nào đẹp đến nghẹn thở

mở được tới vĩnh hằng,

không hồ nào khi sương dần hửng

phản chiếu được sự tĩnh lặng

như giờ ấy –

 

khi những giới hạn của cô đơn xoá hết

và mắt trở nên trong trẻo

và giọng nói trở nên giản dị như gió

và chẳng còn gì nữa để giấu che.

Giờ đây sao tôi có thể sợ hãi?

Tôi sẽ chẳng bao giờ mất anh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cello sâu trầm ban đêm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cello sâu trầm ban đêm

la lên niềm vui tăm tối qua không gian mở rộng

Những hình ảnh mơ hồ tan ra trong ánh sáng vũ trụ ngập tràn.

Hỡi sóng cồn rực sáng

hãy cuốn đi lớp lớp qua vĩnh cửu xanh đêm.

Ngươi! Ngươi! Ngươi!

vật chất nhẹ như không, rạng rỡ, bọt nở hoa của nhịp điệu,

vút lên cao, giấc mơ váng vất của những giấc mơ,

trẳng đến chói loà!

Ta là một chú hải âu, đứng nghỉ ngơi, hai cánh giang rộng

Ta uống niềm hạnh phúc mặn mòi

xa tận đàng đông mọi điều ta biết,

xa tận đàng tây mọi điều ta muốn,

và chạm vào trái tim của thế giới –

trắng đến chói loà!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phải, đau là dĩ nhiên thôi

 

 

 

 

 

 

 

Phải, dĩ nhiên là đau khi chồi non mọc.

Còn gì nữa đây mà xuân phải ngập ngừng?

Vì sao mọi khát khao cháy bỏng

tự giam mình trong u ám giá băng?

Sau hết thì chồi non được bao bọc suốt mùa đông

Có gì mới khi nó nhô ra và chịu rét?

Vâng, dĩ nhiên là đau khi chồi non mọc,

đau vì cái mọc lên

và cái chặn đường.

 

Vâng, thật khổ tâm khi những giọt mưa rơi.

Sợ run lên, treo mình trĩu nặng,

bám lấy cành cây, và phồng lên, và trượt –

sức nặng kéo nó xuống dù nó vẫn bám cành.

Khổ tâm vì phấp phỏng, sợ hãi và mâu thuẫn trong lòng,

khổ tâm vì cảm thấy vực sâu lôi kéo và kêu gọi,

nhưng vẫn ngồi cứng đó mà run rảy –

khổ tâm vì muốn nán lại

và cũng muốn rơi.

 

Vậy thì khi mọi sự hết mức tồi và chẳng có gì gíup được

thì những chồi cây đâm lên trong mừng vui,

vậy thì, khi không còn nỗi sợ cầm chân lại,

những giọt nước trên cành lóng lánh nhào rơi,

quên mình đã từng bị cái mới đe doạ,

quên đi nỗi sợ trước khi bay –

hãy cảm nhận một giây sự an toàn lớn nhất,

hãy nghỉ ngơi trong sự tin tưởng này

sự tin tưởng sáng tạo nên thế giới.

 

 

 

 

 

 

 

 

HARRY MARTINSON

 

Harry Martinson (1904-1978). Từng có một tuổi trẻ giang hồ, làm thủy thủ đi vòng quanh thế giới, cũng như lang thang mọi miền trên đất Thụy Điển. Bắt đầu làm thơ từ 1926, được xếp vào nhóm năm người khởi đầu thơ hiện đại chủ nghĩa của Thụy Điển. Cũng thành công về văn xuôi với tiểu thuyết nửa-tự truyện Nässlorna blomma (Tầm ma ra hoa) năm 1935. Thơ ông được nhận xét là có cái nhìn sắc sảo và con tim rung động với thiên nhiên, thấm đẫm tính nhân bản. Năm 1949 ông được bầu vào Viện Hàn lâm Thụy Điển. Năm 1974 với Sử thi khoa học viễn tưởng Aniara, ông đã chia Giải Nobel Văn chương nhà văn Thụy Điển Eyvind Johnson “vì bắt chợt được giọt sương và phản chiếu cả vũ trụ”. Ông được gọi là “nhà cải cách lớn của thơ Thụy Điển TK 20, người độc đáo nhất trong số nhà văn được gọi là ‘vô sản”.

 

 

 

 

 

(HH chuyển ngữ qua bản tiếng Anh của WILLIAM JAY SMITH & LEIF SJOBERG)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lúc ấy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trước khi lúc ấy bùng lên và chết,

con chuồn chuồn ngồi bên mặt nước gương soi.

Mỗi một giây cái chết lại điểm chuông,

mỗi một phút đám tang giây lại diễu.

Hãy nấn ná thật gần bên lúc ấy

khi con bướm đêm sượt phải vĩnh hằng

trước khi lúc ấy bùng lên và chết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cây thông khổng lồ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cây thông khổng lồ; cả một khu rừng trong nó

với bài ca bão tố của riêng mình.

Giống như mọi thứ trong cuộc đời riêng có tất cả cuộc đời.

Đơn độc trong tiếng nhốn nháo,

riêng mình là bao nơi chốn và số phận bí mật.

Những mùa đông lặng lẽ, những mùa hè lớp lớp mây đùn,

bồ câu và chồn cáo.

Trên ngọn cây một con chim hét

ca bài ca những năm tháng

dài và nối tiếp

vùn vụt đi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gió thổi nhanh và lạnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gió thổi nhanh và lạnh

và mặt tuyết bóng loáng sửa soạn một vũ hội.

Gập làm đôi vì gió mùa đông

và chẳng chút niềm vui

những cây lau năm ngoái trượt đi

trên những sàn trơn bóng.

Thoạt tiên những cây lau lướt dài,

rồi tan tác trong những cú lắc lư sang ngang,

trong những cơn cuồng nhiệt đứt quãng,

mà những cơn gió bấc chỉ huy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuyết xoáy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tuyết xoáy những vòng vũ điệu

trên mặt băng sáng ngời.

Chẳng hề thấy chân tuyết

chỉ tấm áo choàng thôi,

được may bằng tuyết sáng

nhanh như bắc cực quang

những nếp gấp của áo

đính bằng ghim giá hàn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bức tranh mùa đông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những vệt chân chồn tinh tế

nhẹ nhàng đan nhau

trên tuyết mùa đông thành các hình số tám

ở nơi đó một con suối băng có vòm trắng như lông thú

ngoằn ngoèo tiến tới,

con rái cá uống nước từ mắt-băng.

Khi lũ trẻ trong áo choàng len đỏ đến đây

để nghe thấy tiếng hát của vòm bắc cực,

con rái cá đào hang của nó

và quan sát những đôi mắt trẻ qua khe nứt của băng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Búi cỏ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Búi cỏ đầm đìa nắng

và lặng lẽ từ từ

đuổi giá băng trên thân thể lấm đất của mình.

Nó kích thích sự mọc lên bằng những tiếng thở dài của mùa xuân tích tụ hơi ấm.

Những chiếc lưỡi và cạnh của các đống tuyết gần nhất

tan chảy rõ ràng trước mắt trong gió xuân.

Những giọt nước từ mái nhà bắt đầu điểm thời gian vào thùng gỗ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khu rừng tuổi nhỏ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ búi cỏ này sang búi cỏ kia tôi chạy chân trần

tìm những con bò của ông chủ trại,

và tôi nhìn thấy bầu trời trong đáy hồ

xoay chiếc bánh xe cuốn đầy mây của nó.

 

Cuộc sống chơi đùa trong những khu rừng mùa hạ,

chim hét sâu hoàng hôn chim nhạn cao trời xanh.

Mọi giấc mơ và ảo mị chẳng thành,

nhưng ký ức làm đời tôi phấn chấn

và ký ức là toàn vẹn những giấc mơ.

 

Tới những vạt mâm xôi nằm sâu

trong biệt khu của mùa hạ

giấc mơ tôi lúc lúc thiên di

như con sếu khi mùa xuân tới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con rắn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giữa những nhánh xim xanh con rắn tự lột da.

Nó quằn quại thoát ra khỏi cái áo mỏng dài chật chội,

quặn mình bên này bên nọ

lộn trong ra ngoài,

vứt bỏ tấm da không thèm ngoảnh lại;

và cái áo mỏng dài sáng trắng giữa rừng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giữa những bóng râm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giữa những bóng râm đu đưa

các đốm sáng tha thẩn.

Trong trảng cỏ một ngày tháng Bảy

chúng làm cho các con vật hối hả

giữa những búi cỏ của thế giới tí hon.

Giữa những cọng rơm

mặt đất mùa hè lên tiếng báo những điều nguy hiểm.

Mỗi phút có hàng ngàn sự cố nhỏ nhoi

xảy ra nhanh và thận trọng:

Những chiếc lá chớp trên cây cối.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài ca của đồng cỏ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đồng cỏ nở hoa chỉ lũ bướm là miêu tả được,

chỉ lũ ong hát đúng về nó thôi.

Hiểu được hết làn chớp của ngàn đôi cánh

Nghe được hết bài ca của bày ong

thì chỉ có những cô tiên từ vĩnh hằng

đã tự luyện tai mình để nghe cho thấu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thiên nga

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con thiên nga phàm ăn

với cần cổ màu trắng cong như cái móc,

như cái liềm nghiêng nghiêng,

cắt vào khu rừng rong rêu,

khoan cái mỏ mũi dùi

vào bùn đặc mượt như nhung và thối,

nó vươn đầu lên và lạnh lùng

nhìn về bờ vịnh của những giấc mơ, như một con rắn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mùa hạ trên hồ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thiên thần của bùn, cây bông súng kia,

vươn lên từ đáy sâu và bắt đầu chuyến bay vượt lên bóng nước,

bóng nước giấu che trong con sóng chuỗi ngó màu xanh.

Lập tức, rất nhanh, từ bốn phía

Những con nhện nước hối hả lướt trên mặt nước đến đây

nơi có tấm khăn nước phẳng phiu, để đo đạc nó

trước khi những cơn gió và thời tiết xấu bắt đầu.

Thế rồi, trắng một cách cao cả và thận trọng,

hoàng hôn mùa hạ đến bên trên hòn đảo,

vòm trời nâng màn đêm

lên ánh sáng ngày rộng mở,

như trong huyền thoại về Aino[*]

 

 

 

Tấm gương mắt sáng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi sóng cả lặng đi

tấm gương mắt sáng thức dậy.

Trong sâu thẳm

nó bắt lấy những đám mây

đang dong buồm đi về bên kia

bờ mi mắt của hồ.

Những cây vân sam bị cắt nham nhở

lộn ngược đầu trong tấm gương rạng rỡ.

Một cô gái chèo thuyền trở về nhà

ngưng mái chèo đùa chơi

con thuyền của cô màu đen nhánh

như tròng mắt xẫm màu giữa con mắt hồ.

Đó là một ngày tháng Sáu, mà năm tháng sớm xóa đi hình bóng,

nhưng trong một lúc, một lúc lâu, con thuyền của cô

đã làm xẫm màu tròng mắt của hồ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình ảnh dưới nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rừng lau dưới nước

xạc xào vô số đuôi nheo.

Một ngọn cây dương rung rảy

và những tiếng thì thầm rậm rì tha thiết

rủ nhau bay vô hình về phía hòn đảo nhỏ.

Một người đàn bà đang tắm;

một con chim lặn bơi đi.

Nó quay đầu gần trọn một vòng

như chiếc chong chóng gió sáng trắng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đảo nhỏ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con chim lặn quay đầu rồi quay cả thân mình,

phóng cần cổ của nó

như một ngọn lao đa sắc vào những vòng sóng nước,

và những tảng đá của đảo nhỏ,

rồi trôi đi như một con tàu bằng gỗ sồi,

đu đưa một lúc với những thế kỷ trong người trên ngọn sóng hôm nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con bướm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sinh ra là bướm,

ngọn lửa lạnh của tôi rung rinh

trên nền nhung nặng của cỏ.

Lũ trẻ săn đuổi tôi.

Mặt trời lặn bên kia những cây cẩm quì và những búi cỏ,

Tôi xoay xở chạy trốn vào đêm.

Mặt trăng lên xa lắc. Tôi không sợ hãi.

Tôi nghe những tia trăng.

Để tự bảo vệ, đôi mắt của tôi mờ đi.

Sương làm đôi cánh tôi dính chập.

Tôi đậu trên cây tầm ma.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những con rệp tháng sáu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoàng hôn mùa hạ giống như lòng trắng con mắt.

Những con rệp tháng Sáu bay qua o o đùng đục,

tiếng u âm kéo dài.

 

Khi tình cờ chúng hạ cánh,

bạn nhìn thấy vẻ huy hoàng kỳ quặc mốt xưa của chúng,

lộng lẫy màu xanh lục-vàng kim của vỏ cánh âm âm

như đồng thau Ấn Độ.

 

 

 

 

 

Mặt đất trảng cỏ  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ở phía mặt trời rọi tới

mặt đất của trảng cỏ trở thành tấm nền vàng

và cỏ thành mái tóc mặt trời bù rối.

Ở tâm điểm của gian-phòng-rừng ấy

một tảng đá lạc đứng như cái tủ ly vững chãi

chìa khóa vặn ở mặt trong,

rêu đầy ổ khóa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kẻ lạc lõng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sâu trong lòng giếng rung rinh

bộ râu hoang dã của cỏ nước

chải búi râu màu tối trong dòng nước chảy.

 

Từ chỗ này con ếch leo ra

và vui vẻ ồm ộp bài ca.

 

Ở nơi bóng hoàng hôn

gửi cái lưỡi bằng mã não đen

đi uống rượu trắng của nhánh sông,

ẩn sĩ xù xì của lòng giếng

cất lên hết sức mình

âm thanh ve sầu của hồn ếch.

 

Lập tức những đầm lầy xung quanh đáp tiếng,

Nhưng bị bất ngờ trong các hốc hang sâu,

chúng không hài âm với người bắt giọng.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hồ nước có hoa súng

 

 

 

 

 

 

 

Hồ nước có hoa súng làm cho mặt gương của nó sắc sảo hơn.

Mặt của ngày nằm sáng rõ

với những lá cây như miếng sáp bập bềnh.

Trong một lúc hồ lặng im tự tại

dường như trời cao chìm xuống tận bùn sâu.

 

Những con chuốn chuồn bay vài vòng hẹp

và quay trên cái bóng của chính mình.

Chúng sớm tìm được

con mồi, nhưng một chú ruồi sa xuống

và một chuyển động lăn tăn loang ra

từ một điểm gần một cọng cỏ.

Thế rồi gió lên,

thoạt tiên một làn gió nhẹ,

nhưng mạnh lên từng giờ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những chiếc lá rời cành

 

 

 

 

 

 

 

i

 

Tất cả tĩnh lặng làm sao nghe rõ từng tiếng động

cái đêm xuân trong trẻo này.

Trong đầm lầy chim te te xây chòi giảng kinh: cành nhánh đan qua đan lại.

Nó sẽ là bà bói thời tiết của đầm lầy trong ba tháng

sẽ báo trước những trận mưa trút xuống thằng bù nhìn

mà kiến đỏ sống trong mớ giẻ.

Nhưng trước hết nó đẻ trên ngọn cây ba quả trứng

hơi lớn hơn trứng bồ câu.

 

 

 

 

 

iv

 

Một quả chuông lang thang

đêm nay qua các trảng cỏ  –

trên khắp khu rừng rộng âm thanh vang dội của con

gõ kiến đen.

Nó đánh thức một con cáo,

và con mắt đen của hình thù phủ đầy rêu bên hang thú

xảo trá nhìn chăm chăm vào cái bóng của mình

nhưng ánh nắng giống như con thằn lằn đang leo lên thân cây

dương-rụng-lá.

Trái xim xanh đang lúc còn non.

 

 

 

 

 

Vii

Con diệc

 

Thu thuần khiết, khí trời trong trẻo.

Thượng đế thở từng hơi thở từ cây; con suối nhuốm vàng,

và cây lá móng nhỏ máu từ cây dương bị chặt.

 

Con diệc lông xám đứng đây trong buổi sáng này

đứng nghỉ ngơi như một con hạc

dưới màn mỏng nhẹ mù sương.

 

Tôi ngắm nhìn nó đứng,

không biết đến mọi sự đã xảy ra

và mọi cái đã thay đổi cái nhìn của thế giới.

 

Hỏang sợ vì tiếng rầm rầm xe lửa bên kia màn sương khói,

con diệc ung dung bay đi

khi đoàn xe đến gần,

lãng quên, lịch thiệp, bình yên và hoang dã.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm cuối

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đó là năm mà ngôi nhà tranh bỏ hoang trong rừng bị bán làm củi đốt.

Những người đốn củi đánh xe vào rừng

giật đổ nó trong ba giờ mười lăm phút

cả cái khung giếng họ cũng lấy đi.

Cái khung bé nhỏ đến nỗi khi gỡ ra khỏi giếng

họ chẳng thèm phá nó ra

mà đặt ngay trên sàn xe nguyên xi như thế.

Và nó nằm đấy, phơi ngực nhỏ màu xám phủ đầy rêu.

 

Khi tất cả lặng yên trở lại

con chồn ra khỏi khoảng bếp cũ.

Nó gọi một con chim cu trong rừng,

và hai đứa cùng nhau cầu nguyện.

Chim cu ca một bài cúc cu

Và thế là mọi thứ đều kết thúc:

Sau lúc đó chẳng còn gì như xưa.

Nhưng mùa hạ vẫn thong dong bước tới,

thả lỏng cỏ xanh và những tràng hoa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trên tay áo anh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trên tay áo anh

con bướm vàng cuối mùa

bị lầm đánh thức

bởi sức mạnh giả của mặt trời.

Khi nhận ra sự thức tỉnh kia sao phù phiếm,

nó vụt khỏi bàn tay anh

và bay lẫn vào đám lá đang rơi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bó hoa dại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chụm thành bó, những bông hoa chuông bồn chồn run rảy,

tìm cách khuấy động ánh mắt mở to đăm đăm lơ đãng của em,

mùa hạ còn đây, khô và đầy hạt.

Những ngày khô dài dặc chói chang gió mặt trời hút cạn nước nguồn;

từ tóc cỏ mong manh rơi một nang đầy hạt.

Tỉnh thức đi em, cô gái mơ màng đôi mắt mở to,

hãy trở về đây trước khi mùa thu chiếm chỗ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trái cầu lông tơ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vẻ rực rỡ của bồ công anh đã phai tàn.

Giờ đây trái cầu lông tơ của nó bình yên chờ đợi

cho trái cầu bằng sợi len nhẹ như gió kia

được bốc đi khỏi cây đèn đã tắt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giun đất

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ai coi trọng con giun đất,

kẻ cày xới ở sâu dưới lớp cỏ dày?

Kẻ giữ cho đất luôn luôn thay đổi,

làm lụng mò mẫm xuyên qua lớp đất trồng.

 

Khi cánh đồng sẵn sàng vào vụ gặt,

nó cày xới những vùng dưới thấp.

Ai coi trọng giun đất,

thợ cày lặng lẽ dưới tầng sâu,

nông phu nhỏ bé vĩnh hằng dưới lòng đất?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngôi nhà tranh đổ nát

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa ngò trắng mỏng manh

đã dệt thành tấm màn che cuối cùng của ngôi nhà tranh đổ nát.

Mái tranh nát vụn đã rớt xuống rồi.

Lối mòn chỉ còn là giải cỏ không ai thăm viếng nữa.

Nhưng cây bách xù và hòn đá đã nhích lại gần nhau.

Một trăm năm sau chúng sẽ làm đám cưới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những bày có cánh đẻ muộn mằn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những bày có cánh đẻ muộn mằn

tìm đường bay dưới tầng cây trụi lá.

Chúng đột ngột dừng ở những nơi khuất gió

Người ta thấy chúng nhảy múa hết thấp lại cao

ở những nơi nắng thu còn sưởi ấm.

Chẳng ai có thể gọi tên giống loài của chúng

trước khi mùa thu ném chúng ra ngoài năm tháng

về phía những biển không gian vô gia cư.

 

Nếu như mỗi con có thể gọi là một từ

thì cả một ngôn-ngữ-cuộc-sống ở kia bay đi trong gió.

Sống và Chết, hai kẻ tiêu hoang vĩ đại

đêm đêm chơi một ván bài to.

Không đếm nổi, không ai đếm, phần lớn những gì ta thấy

quay cuồng bay đi vĩnh viễn, tan tác từng giây.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiếng thì thầm của lá

 

 

 

 

 

 

 

Tiếng thì thầm của lá giống như tiếng vô vàn đôi cánh

từ chuyến bay của Thời gian;

mỗi chiếc lá giờ đây có đôi cánh riêng của nó.

Hãy lắng tai, bạn có thể nghe sâu phía dưới

sự hòa trộn của mùa xuân và mùa hè

trên những ngọn cây mùa thu.

Những mùa đông lạnh giá đến gần:

Gió Sinh trộn cùng Gió Tử,

trong đêm mịt mờ tối tăm ảm đạm

nói với những con sóng Thời gian.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mùa thu chẻ củi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi ta chẻ củi trong rừng thu muộn

nhiều điều xảy ra mà ngũ quan ta giữ gìn,

những điều nằm lại trong ký ức, tiếp lửa cho nó bằng mảnh vỏ bạch dương

bóng loáng.

Mảnh củi này chẳng bao giờ thành khói tiêu tan.

Cả cái nêm

để bửa khúc gỗ nhiều mấu

cũng hằn vào ký ức.

Khi những xúc gỗ bửa đôi đã được chẻ và xếp đống,

bỗng bùng mở những tháng năm của cây bạch dương,

mỗi lần sáu bộ,

cùng với hương mùa hạ mùa đông.

Ký ức mệt mỏi bị xua đi

khi cao dần đống củi.

Ký ức bảo vệ cái tủ trắng xinh đẹp bằng củi bó

giữa rừng thu.

 

 

 

 

 

 

 

 

Táo dại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bỏ hoang, cây táo dại đăm đăm nhìn xuống nước

với những chiếc lá vàng,

khua trái vào dòng suối trong

sửa soạn món xúp táo.

Nó sống ở nơi nó đang hiện hữu,

sẻ chia số phận tự do gian khó của loài mình,

nó cảm thấy tự do hơn cả

loài cây trên thiên đường.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trái tim bạch dương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trái tim khắc trên vỏ cây bạch dương

đã phồng lên theo năm tháng.

Hút sự sống từ nhựa cây nó trở thành giống như chiếc bánh sữa nhỏ.

Thêm vài năm nữa trong rừng nó sẽ bắt đầu đập cho xem.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lá rụng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gió ép cây thừa nhận mùa thu của mình.

Cây vứt bỏ trên mặt đất trong sắc vàng kim những gì nó đã làm hữu dụng

vào mùa hạ.

Chẳng bao lâu cây cối sẽ bị ép

bỏ cuộc chơi năm nay.

Trần trụi mau chóng trở thành mốt.

Lòai nấm, mắt bị chói lòa,

dâng lên chiếc bánh dựng đứng màu đỏ khi nó còn tươi non

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cây phong kéo lê chiếc áo choàng lửa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cây phong kéo lê chiếc áo choàng lửa

trong trận mưa làm tắt màu đỏ của mùa hè;

những cơn bão buốt giá đập cửa nhà ta,

kêu rằng màu xanh của cỏ đã chết.

 

Với những cánh tay đầy lá trận cuồng phong

vui vẻ quét qua trong bộ váy dài kết bằng lá

màu lửa, và chộp lấy cây thông um tùm,

tòa tháp lớn của rừng, thẳng thừng hạ gục.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con suối

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con suối ngoằn ngoèo và biến mất

cố hết mình dưới đống tuyết dồn cao.

Nó róc rách thì thầm

với giọng quả quyết.

Nó vẫn chơi đùa dù xuân về hay thu tới,

nhưng nó nín hơi,

lặng lẽ dần từng chút khi nghe tiếng xì xào

của cái miệng giá băng nhăn nhó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dưới ánh sáng những vì sao xa lắc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dưới ánh sáng những vì sao xa lắc

vĩnh cửu tự phơi mình

trước cái lạnh sắc của rừng.

Với vệt hằn thật mảnh

vạch bởi vì sao băng

một vô tận nhọn hoắt bước vào

dọc theo dây thần kinh của đêm tối.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Điêu khắc thiên nhiên ở dãy núi Andes

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mưa bất chợt xối xả, băng giá cào nạo

đã tạc khối hoa cương thành cô gái.

 

Địa y bám len xanh

vào gương mặt đá loang lổ

quanh cái gò rốn đá

quanh cái eo đá nai.

Lũ kiến hoài công làm nhột

hai núm vú hoa cương khổng lồ của nàng.

Sét đã đánh vào cổ nàng.

Hàng nghìn năm nàng đã đứng nghiêng nghiêng chốn này

nhạo sấm sét và mọi thứ

với miệng cười giá băng. Ba tay. Một mắt.

Cái nhìn thiên thu từ con mắt bên

bằng thạch anh. Bên bắp chân nàng con suối nhỏ

nói về những thần thánh bị truất ngôi,

hát với những quả chuông bằng bạc ướt

bên mắt cá chân nhẵn nhụi khổng lồ.

 

 

 

 

 

 

 

Nỗi buồn và niềm vui

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mỗi nỗi buồn sâu đều đánh mất niềm vui là mục tiêu.

Đừng lạc mất hướng này.

Đừng để nỗi buồn quên đi đích đến.

Nỗi buồn là vinh dự sâu sa nhất mà niềm vui có được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sự ra đi của những ký ức

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khi ký ức sắp ra đi chúng lại thường hay đến

như muốn được ta tiêu thụ hết cho xong.

Tốt nhất là tiêu thụ chúng giống như một món ăn khoái khẩu

tiêu thụ thường xuyên để hết thèm thuồng.

Giá trị của chúng vậy là giảm bớt

cho đến một ngày chúng rơi tõm vào lãng quên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KRISTINA LUGN

 

 

LUGN, Kristina sinh năm 1948 ở Tierp, Uppland, miền trung Thụy Điển, lớn lên ở miền nam và  miền bắc nước này. Làm thơ, viết kịch, sản xuất và đạo diễn kịch. Viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển từ năm 2006. Lugn xuất bản tập thơ đầu tay của mình năm 1972 – Om jag inte (Nếu tôi đã không…) –  và từ đó bà  qua lại giữa thơ và kịch. Năm 1983 bà có sự đột phá cả về mặt nghệ thuật lẫn danh tiếng với tập thơ Bekantskap önskas med äldre bildad herre (Muốn làm quen với quí ông cao tuổi, học thức). Trong thập niên 1980 Lugn lại có sự đột phá về kjch bản sân khấu. Với phong thái và cá tính của mình, Lugn chia công chúng ra làm hai phe. Người ta không thể không nói đến bà, dù yêu hay ghét. Từ lâu rồi bà đã là một phần hiển nhiên của đời sống văn hoá Thụy Điển. Tập thơ mới nhất của bà ra mắt năm 2003 Hej då, ha det så bra! (Tạm biệt, hãy bảo trọng!) sau 14 năm im lặng do tập trung vào sân khấu.

 

Thơ Lugn mang tinh thần mỉa mai, buồn, bộc bạch, đầy chất u-mua phi lý, tàn nhẫn. Nhưng nội dung và ý định nghiêm túc thậm chí càng hiện rõ từ cái vẻ mặt hề kia. Lugn trở đi trở lại những chủ đề như sự cô đơn, cái chết, nỗi sợ tuổi già, sợ chết, sợ không làm tròn bổn phận người mẹ, người tình, người công dân.

 

 

 

(HH chuyển ngữ theo bản tiếng Anh)

 

 

 

 

 

Không đề

 

Tôi cần sự im lặng

và cô đơn

và một kho từ thật thích hợp.

Tôi cần sự bí mật

và ý nghĩa lâu bền của thực tại.

Bổn phận của tôi lúc này

là gắng giải thoát chính mình

khỏi những phát biểu rõ ràng của mình

 

Sống là công việc buồn bã

Nếu không hiểu được điều này

bạn sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc.

 

Căn phòng có cửa nhìn ra

 

Một căn phòng có cửa nhìn ra

sẽ là món trợ cấp cho con

Trời sao sẽ là giấy dán tường phòng khách

và Mozart sẽ viết nhạc.

Con sẽ có một mái nhà

yêu mến con

Con sẽ có khiếu hài hước

và tập hợp tác phẩm của Strindberg[†]

và tất cả các đứa cháu của mẹ.

Quà mẹ cho con sẽ là cho con nói nhiều thứ tiếng

và bao dung mọi loại thời tiết.

Con sẽ sống gần gụi thiên nhiên

và có những trần nhà rất cao trang trí thạch cao

Con sẽ có một cuộc sống

tha thứ cho con mọi điều

Con sẽ suy nghĩ rõ ràng

và có những tình cảm mạnh mẽ

và rất vui vẻ.

Tất cả những điều này được viết trong hợp đồng bảo hiểm nhà cửa của con

Con sẽ sống yên bình

Mong ước của mẹ là con sẽ không bao giờ

mất đi niềm hy vọng.

Con sẽ có một trái tim dũng cảm

một trí tuệ can đảm

và xét đoán đúng đắn

Người mà con tin tưởng

Sẽ không bỏ rơi con

Quà Gíang singh của mẹ là lời hứa nếu con ngã

thì mọi người sẽ hoan hỉ giúp con

Một nụ cười thân thiện sẽ đi với con trong cả chuyến đời

Mẹ sẽ gửi cho con sự bảo đảm từ nỗi cô đơn của mẹ

Con sẽ không phải thừa kế bất cứ gì từ mẹ hết

Nhưng con sẽ có tất cả món tiền

 

Tôi mơ người đến

 

Nhưng tôi mơ thấy người đã đến

Tôi mơ thấy người đã đến

trong cơn mưa giữa nắng

Tôi mơ mình đang nằm nghỉ

trên một cái giống như đám mây khói

bay lên từ quê hương của người

Tôi mơ thấy người đã viết

một ký hiệu rất đẹp

của tuổi tác

trên trán tôi

Và bóng tối từ đôi mắt người

trong toa xe nằm của tôi

giống như một ngọn đèn đọc sách

cho một nhà thơ mơ mộng

Người-khách hàng-của-năm ở hiệu thuốc mở cửa ban đêm

 

Đột nhiên có một nốt nhạc lãng mạn

trong giai điệu của câu nói

Vâng, nhạc khiêu vũ

chuyển động qua các câu nói

Và những truyện thần tiên

giong buồm ra khơi

băng qua những vùng kích dục

giữa suy tư và cảm nhận

và cuối cùng, đêm

năm xuống

nghỉ

trên thân thể tôi

 

 

 

Tôi không muốn gặp

 

Tôi không muốn gặp nhân viên y tế thường trực đêm ngày

Tôi không muốn chuyện trò với đội cấp cứu hay với nhóm xử lý bệnh kịch phát

Tôi muốn Hoàng tử Bóng Tối đến đây

và ký vào lá đơn xin vắng mặt cuối cùng của mình

 

Tôi không muốn hợp tác với cái chết

Tôi muốn nó biết tôi là ai

và thách đấu với tôi về căn cước của tôi

Thêm nữa tôi muốn một liều

một liều lớn morphin

và bản cáo phó thật dài

 

Những người hát rong sẽ tập họp

trên bậu cửa sổ nhà tôi

Và vua cùng hoàng hậu

sẽ đội mũ miện vào

và xin tôi tha lỗi

 

Và điều duy nhất tôi muốn

như món quà tiễn biệt

là được phép chạy vào trong vòng tay anh

 

Vâng, giống như một dòng thơ vậy đó

Tôi muốn chạy vào trong vòng tay anh!

 

Tôi phải lo liệu mọi thứ

 

Tôi phải lo liệu mọi thứ trước khi ra đi

Tôi cần có giày

Tôi cần có giày đi bộ

đế bằng cao su

Tôi nghĩ sắp đến lúc khó khăn rồi đấy

 

Hãy nhìn tôi đây này

 

Tôi biết mình sắp đi với con dao

Tôi biết mình sắp đi với sợi thừng

Đôi khi phải bắn một phát

Tôi đã quấy rày mọi người về chuyện ấy cả 50 năm trời

Mà thực ra chỉ mất nửa giây

 

Vì sao anh nhìn tôi lúc này?

 

Tình yêu đâu vĩnh cửu

Nhưng cái chết thì có đấy

Cái chết là vĩnh cửu

Tạm biệt, hẹn gặp lại!

 

 

 

Bây giờ tôi đang ngủ

 

Bây giờ tôi đang ngủ

trong một thị trấn rất xưa

rất đẹp.

Bây giờ tôi đang ngủ

lần đầu tiên

với hai bàn tay xếp lại.

Và ai đó không quen biết

đã vuốt tóc tôi

khỏi xoà lên mặt.

Bây giờ tôi không còn

là cô bé nào nữa.

Vậy nên tôi chẳng cần

cảm thấy bị bỏ rơi.

Khi bạn chết rồi

là bạn chết thật

thì đừng cho thấy mình buồn bã như thế nào

trong lúc bước đi trên mặt đất

nhìn ngó ngẩn ngơ.

 

 

 

JOHNSSON ARNE

 

JOHNSSON, Arne sinh năm 1950. Làm thơ, viết tiểu luận, phê bình. Lớn lên ở vùng quê Smaland, miền nam Thụy Điển. Học tiếng Anh và văn chương, sau đó học để thành quản thủ thư viện, làm việc lâu năm ở thị trấn nhỏ Lindesberg. Nghiệp văn của Johnsson bắt đầu khá muộn nhưng lập tức vang tiếng với cuốn Förvandlingar (Biến hình, 1985). Một giọng điệu thi pháp mới và có sức thuyết phục mau chóng ảnh hưởng mạnh đến thơ Thụy Điển, nhất là trong thập niên 1990. Đầu đề của tập thơ rất có ý nghĩa đối với thơ của Johnsson như một tổng thể (đến lúc ấy gồm khoảng 10 tập): có thể miêu tả nó như một kiểu bất an hữu cơ, dường như tự do về hình thức nhưng sắc bén trong sự chọn lựa từ ngữ, đầy cảm giác, đôi khi lưu loát, đôi khi tỉnh lược và phân mảnh, nhưng luôn luôn có sự chú tâm ngày càng tăng đối với những phẩm chất thay đổi của thực tại. Đối với nhà thơ, mọi loại hiện tượng vật thể hay trí tuệ đều có mặt đối lập, một bản chất thứ hai, một tính chất nhất thời. Cái bất động thực ra là chuyển động, trong cái chuyển động có bất động. Màu sắc, cảm giác và hình thức thay đổi và trộn lẫn với nhau. Cái cá nhân được chuyên chở bởi một hình ảnh rộng hơn, một thời đại lớn hơn, thân xác con người cũng là tự nhiên, phong cảnh và năng lượng thiên nhiên. Arne Johnsson tìm cách đào sâu lối diễn đạt mà mình tạo ra lúc đầu, và ở những tác phẩm gần đây, ông thực hiện sự kết hợp giữa kỷ luật và sự mở.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson và Nick Furderer)

 

Sao mà mọi thứ cứ giống như một cái gì khác! Nhưng cát là cát, dấu chân là dấu chân – nếu tôi, như một kẻ mơ mộng rút lui khỏi thế giới, dập dềnh trên giường ngủ, đơn độc trong cái là những ý nghĩ mà lại không phải thế: nếu tôi hình dung từng hạt cát đơn độc, từng hạt từng hạt bị từng bước chân chuyển dời trên đất, và nếu tôi nhìn thấy mình, một người trong mọi người, dập dềnh trên giường ngủ với từng phần của mọi người nhào trộn trong ý thức của mình?

 

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Phillips)

 

thời gian quá ngắn ngủi

thậm chí không đủ che chắn thân mình

– anh gần như bị ngấu nghiến

chẳng mấy chốc mùa hè tuôn tràn ngập chúng ta

cây cối bao la sóng lớn vỗ bờ những mảng

màu xanh phồng lên lá cây xanh nhẹ những đốm màu vàng kim trong nước

màu xám xanh nhẹ làn da em bé mượt mà

hay lập loè như bạc đẹp

rời bỏ em khi anh vuốt ve

sự biến đổi

 

xin đừng khô cạn từ anh

hãy giữ lại anh trong cái không phải là những lời hứa hẹn

mà vẫn là hứa hẹn

hãy giữ lại anh trong gương mặt em trong những đường nhăn

mỏng như cây kim bên dưới cái lưỡi sắc nhọn của em trong đôi mắt em mà em hy vọng

có thể nhìn thấy

 

hãy giữ lại anh trong chiếc xe hơi màu xanh lơ của em

và trong mọi thứ xung quanh em

để em nhìn thấy

anh sẽ chết chẳng bao giờ trở lại

 

 

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson)

 

Mưa. Những dòng nước trên mặt tôi.

Giờ là tháng tôi ra đời. Rồi một ngày tôi cũng sẽ phải rời xa tất cả. Có đôi khi phút chia tay làm tôi hơi cảm động – kích thích thân thể và tư tưởng của tôi, giống như sương mù ban sớm. Cái chết giống như là nước.

Và không chỉ cái chết. Đôi khi dường như chẳng thể giữ được gì hết, mọi thứ chảy đi và nhỏ giọt, y như mùa hè bị quét nhanh ra khỏi quyển niên giám, với những vết cắt sâu.

Nhưng tôi không than phiền.

Dù chỉ chốc lát nhưng nó vẫn là thiên đường ép uổng giữa địa ngục. Hãy đến đây. Hãy tự mặc đồ trong bóng dâm ẩm ướt, nhìn tôi và tôi sẽ nhìn em, hãy chạm vào tôi và tôi sẽ chạm vào em. Chẳng có gì thần thánh trong chuyện ấy, loài vật cũng ăn thịt nhau mà.

 

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Lars Ahlstrom và Arne Johnsson)

 

mơ thấy đang rơi, mơ thấy mình đang mơ, đang rơi qua giấc mơ này đến giấc mơ khác. Tôi bước ra ngoài, bất chấp ánh sáng rực rỡ mà gió cắt ngang. Tôi khép chặt chiếc áo lạnh trên người và bước xuống phía hồ. Tôi loá mắt, trong ánh sáng tôi chỉ nhìn thấy ánh sáng.

một người bên bờ nước nói với đứa con về cá, bảo rằng có cá ở đằng đó và nếu ta có thể sờ vào mặt nước giống như sờ vào da thì ta sẽ cảm nhận được chuyển động của cá giống như những dòng chảy và những rung động ở đầu ngón tay và lòng bàn tay:

trong nghề của mình tôi để cho những ký hiệu, những tờ giấy đổi chỗ với nhau, mỗi ngày con sóng mới xoá đi con sóng cũ. Những đứa trẻ chạy xô qua các phố, những đường bay của chim chóc trôi giạt trong gió; còn anh, đường bay của anh là gì, tên anh là gì – Tôi tìm thấy anh và không tìm thấy anh, bàn tay tôi nhè nhẹ sờ mọi vật.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

Đèn đường màu cam và màu lam phớt trắng, đèn trong cửa sổ các ngôi nhà, đèn trên đầu xe hơi trôi trong bóng tối dưới những đám mây không nhìn thấy được. Không có sao trời, quanh tôi là sách, ảnh, đèn, trẻ con ngủ sâu trong lòng căn hộ. Những nụ cười vụt nhăn qua gương mặt chúng. Sáng hôm nay chúng tôi nhìn thấy bông tuyết đầu tiên, những tinh thể nhẹ dật dờ trên cỏ, trên nhựa đường và những vũng nước đóng băng. Chẳng mây chốc chúng tôi sẽ sa xuống tận đáy của bóng tối, óc luôn luôn nghĩ đến những cánh rừng tốt lá mùa xuân, luôn luôn đợi chờ những lớp chăn bào tử của rừng, những bông hoa dường như đung đưa uể oải trong những tầng sâu biển cả không khí trong veo, vâng không khí trong veo pha lê mà mùa đông mới vừa hút từ đó. Sách trên sàn nhà, trên bàn và trên giá, tôi lớn tiếng đọc về những ngôi sao rụng, giọng tôi trộn với tiếng đoàn tàu chở hàng băng qua sông, ánh đèn đỏ nhấp nháy chiếc xe hơi cuối cùng dằng sau bãi cây. Bên trên những đám mây dày đặc đêm nay: quỹ đạo Trái đất đang cắt qua bày thiên thạch, thiên thạch cháy thành vệt dài. Không có cái gì du hành qua cái gì. Trong ký ức tôi: nhìn thấy em trong bóng tối của tôi. Tôi đọc, tôi nói, tôi viết. Sỏi; lửa không nhìn thấy được.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson)

 

Tôi ở bên bờ nước với các con tôi. Lớp băng ban đêm mỏng như kính, vịt bơi qua bơi lại dọc theo bờ hồ. Giá kết trên ria mép tôi. Đứa con gái lớn của tôi kể cho chúng tôi nghe một giấc mơ: nó cùng với ba cô gái nữa đang bước đi trên băng, vận trang phục mùa hè – lần lượt từng đứa ngã lọt xuống qua lớp băng và chẳng có ai ở đó để cứu chúng. Đầu những con vịt cái giống như ngọn lửa, nhưng một hình ảnh không phải như nó là: vì thế toàn bộ nước sẽ đóng băng.

Tôi không tuyên bố rằng bất cứ gì trong tất cả những chuyện ấy liên quan đến bất cứ cái gì khác; tất cả qua suốt mùa đông những cái đầu bốc lửa của chim chóc.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

điều nâng đỡ chúng ta, giữa mọi điều là sự cô đơn, những người trôi về phía tôi, vượt qua tôi, người bán hàng và những người không bao giờ nhìn vào mắt ta. Em đang đeo đẳng tôi ngay cả ở đây. Tôi bước đi vượt qua các quầy hàng, những quầy trang sức, áo quần, túi xách, hoa. Những đồng xu lanh canh trong túi tôi, tôi đọc lên trơn tru những cái tên và giá tiền lạ lẫm của chúng, tôi đánh vật với những tấm biển và bảng. Môi tôi động đậy, tôi cố gắng phát âm, để cho các dây thanh quản của mình rung lên, lưỡi mình vặn vẹo trong khoang miệng. Tôi cố gắng để hiểu. Em đang đeo đẳng tôi ngay cả ở đây. Một người cha đang bước đi tay nắm tay những đứa con, những cậu con trai và người đàn ông chuyện trò với nhau, mắt họ lấp lấnh. Những ngọc ngà như thế là để tặng em.

 

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson và Nick Furderer)

 

Đêm: tất cả tối tăm, tất cả màu lam đổ lên chúng ta khi chúng ta ngắm nhìn bên cửa sổ – nhìn một tia sáng, giống như cái cánh, và nếu như ta không trở lại nữa, nếu như nó lớn lao hơn ta? Bóng tối và nước, những vật thể có bề mặt dịu mềm hơn da trẻ em, chúng đến với tôi, an ủi, đe doạ, với một ngôn ngữ rỉ rả quanh mọi thứ trên đường đi của nó.

Tôi bước đi, đó là lúc ban đêm, băng qua thị trấn, qua những ngôi nhà và quảng trường, công viên và hồ nước. Tôi ở đó nhưng cùng lúc, trong ý nghĩ, cũng ở những nơi khác. Dù tôi là ai đi nữa, tôi đi đâu chăng nữa, cũng thế thôi, với những ý nghĩ còn mong manh hơn tia sáng.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson và Nick Furderer)

 

Tôi bước thật dài trên mặt nước, cứ như thể đã – hay đang – có một lực cám dỗ bên trong rất khó cưỡng lại. Cũng đúng là điều tôi cảm thấy khi đứng trước ánh sáng rực rỡ của bóng tối, với những đỉnh cao và tầng sâu chất ngất. Choáng váng, và những ý nghĩ chạy theo việc tìm kiếm những vòng cung cọng hoa súng, từ những chiếc lá xuống chùm rễ như bện bằng liễu gai trong bùn và xuống nữa, theo những dòng ý nghĩ, đến một nền đất chắc hơn. Tôi nghĩ rằng ở đó là sự đối lập với không khí và các bầu trời, là sự phản chiếu thực sự. Giống như sự biến hoá của ánh sáng trong tôi, vượt ra ngoài tầm mắt.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson)

 

mùa hạ tháng sáu có một thân thể gió em là

đứa trẻ bên bờ nước

tiếng chó sủa được sự ẩm ướt của buổi chiều oi ả đưa đi

theo những lối mòn trên đồng cỏ hồ nước em không

sợ đó là lúc của loài rắn và chim nhạn chúng băng

qua em chúng có tự do của chúng em nghĩ thế nhưng tự do của em

còn lớn hơn bởi em có thể để chúng đi qua em là hồ nước

không cần tin hay không tin em chuyên chở những ai

có thể chuyên chở những người khác em mang trở về vào phút chót

gíông như xoè bàn tay khi hạ ván bài một thời điểm

của đổi thay em là hồ nước em ngồi bên cỏ không khí

em là đứa trẻ mà em từng là

tròng mắt em mở to hướng về đêm hồ nước

tối lại thú vật đến uống em em

được cho đi với lời hứa lặng im em là

những cái lưỡi của chúng tôi đẩy con thuyền xuống nước em là tôi

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

những đoàn tàu đêm đêm qua sông. Cái lạnh se sắt, nước lờ đờ như uể oải quan sát không buồn không vui. Thu muộn, đầu đông. Những lá thư chồng chéo ngoài bưu điện, anh hình dung là thư em – căn hộ, những giấc mơ, những cái cây ngoài sân. Nếu chẳng bao giờ nữa: vậy thì đâu là ngôi nhà của những ý nghĩ. Trăng một màu trắng sáng có quầng sương; giờ sớm tinh mơ, tiếng trẻ. Những vũng nước trên phố đóng băng, những chiếc lá vẫn trên nhánh trên cành, trắng vì băng giá; những con vịt tìm chổ nghỉ và hơi ấm còn vương, trái cây trong vườn; một người đàn ông đi ngang qua, mơ hương vị táo, cái rét ngọt tê buốt, rền vang.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

và tôi tìm bài văn cho đến khi thấy nó. Tuyết phủ dày vài phân trên bờ rào, chim chóc in bóng trên màu tuyết trắng. Tôi nhớ thời đi học của mình như thế đó. Đứng trong rừng, ngay bên nhà, mùi thơm tinh nhẹ đồng thời lại chua gắt. Nắng sưởi ấm tường, lũ dơi bay rối rít trong các hốc tối. Chẳng mấy chốc gà gô sẽ bay trên đầm lầy; đêm đang đến gần, tôi đọc, lòng tôi xúc động. Buổi sáng, trong tiếng người xoe xóe nhức óc chúng ta nói về cái mở và cái ẩn giấu. Tôi nhìn thấy cái lưỡi của em.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Arne Johnsson và Nick Furderer)

 

Một ngày giống như sau cơn mơ. Chúng ta tưởng mình biết được nhiều hơn, biết cuộc đời dài lắm. Tôi mang đời mình theo, với tên tuổi, áo quần, tôi hít thở.

Con chuồn chuồn cõng ngày trên lưng, cõng ánh sáng, nước. Đôi cánh, giống như lá kính rạn nát, đập rất nhanh mà không gãy.

Tôi nghĩ đến những cái khác. Liệu mình có  nên để mình trôi đi, để mình bị đưa đi như chuồn chuồn, bướm đêm, nhện và muỗi mắt, phải, để gió đưa đi xa hay trở về nhà, ra khỏi bức tranh, cái vi ti được phóng lớn.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

tiếng chim hót trôi quanh tôi, tôi đi đến tiệm giặt, nghĩ về tuyết đang rơi. Nước, ngay cả nếu bị giấu kín, vẫn tự phô mình trong những gian phòng và những hình dạng. Thiên nga gọi vang, những cái bụng trên đường tàu, chúng ngoắc đầu nhau. Cổ họng của lũ chim nhỏ biết hót, xù lông, với những cơ thịt, những chất lỏng đang chảy, co lại và căng ra: lũ chim, tiếng hót của chúng và những điều chúng hót, những gì ở chót lưỡi cuối cùng là cái thoát ra khỏi thân xác và ý chí: lời tỏ bày, tiếng gọi.

 

Không đề

(dịch theo bản tiếng Anh của Katarina Trodden)

 

nhìn thấy nhưng cũng không nhìn thấy: bạc lung linh trên lưng những con cá trong dòng nước, tiếng than van của muỗi, lởm chởm cỏ trên nhưng búi nổi giữa đầm lầy, lý gai, hoàng liên gai, bách xù, sỏi – câu chuyện của mùa hè trong mùa hè tuổi nhỏ. Một lần tôi đứng một mình trên bậc thềm, lúc đêm đã khuya, bóng tối sập xuống và hơi nóng rời bỏ mặt đất. Gió chạy qua những ngọn thông và trên cao những vì sao tiếp theo nhau thắp sáng, nhóm sao tiếp nhóm sao, những đốm sáng kết thành tấm màn lấp lánh. Giờ đây khi tôi nghĩ về cái đêm hôm ấy trái tim tôi được rót đầy khoảng cách, ánh sáng xuyên suốt cuộc đời và ký ức, vâng nó mọc lên trong ký ức tôi giống như những bông hoa đầu tiên rồi đến những trái quả phủ đầy cây cối và cỏ thơm, những mùi hương nhập với nhau dính vào bàn tay, cánh tay, quần áo, vào miệng, giống như lớp bọc ngoài  – như thể trong nước hay không khí – của cái mà tôi nhìn thấy và không nhìn thấy.

 

 

 

FROSTENSON KATARINA

(Dịch theo bản tiếng Anh của Frank Perry)

 

FROSTENSON, Katarina là một trong số các nhà thơ có ảnh hưởng nhất trong thế hệ của mình. Bà sinh năm 1953 tại Stockholm, làm thơ, viết kịch và đoản văn, dịch giả tiếng Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển từ 1992. Frostenson xuất bản tác phẩm đầu tay vào năm 1978, I mellan (Ở khoảng giữa), và từ đó bà viết rất đều, rất nhiều. Thơ bà có tính thể nghiệm, trí tuệ và cũng duy cảm một cách rõ rệt. Rung vang của từ ngữ, cú pháp và nhịp điệu cũng như cách sắp chữ và thể hiện thị giác của các con chữ trong thơ Frostenson cũng quan trọng không kém các phẩm chất ngữ nghĩa và biểu tượng. Cũng quan trọng như thế là sự quan sát tiến trình viết; độc giả chú tâm đôi khi có cảm tưởng lời thơ đang được viết ngay lúc mình đọc vậy.

 

Thơ Frostenson cố tình tránh những ám dụ và lối kể chuyện hay bất cứ gì liên  quan đến những thủ pháp ấy, đặc biệt từ thập niên 1980. Thay vì thế, người viết khai thác những sự gãy vỡ, chà sát của ngôn ngữ, trải nghiệm và kiến thức. Thường khéo léo tạo liên tưởng đến những huyền thoại lãng mạn hay cổ xưa, nhưng thơ Frostenson chủ yếu hướng về cái đương thời, về hiện tượng của đô thị, chính trị và lý thuyết xã hội hôm nay.

 

 

Metapontum[‡]

 

Vì sao chúng ta đến muộn thế

và nghiêng mình nhìn lên

 

có những con chim đang tới

 

những xôn xao màu xám

 

con rắn biển

cuộn sóng không màu

Chẳng có cái gì

“bên trong một con sóng”

 

không có nỗi buồn, không có gì ẩn giấu

chẳng gì khác nữa trên mặt đất

 

mọi thứ đều phô ra ở đây và sau đây vĩnh viễn

“ngực đã trở thành một đồng bằng bị khoét”

 

mọi nụ cười chết đi

trước mặt đất này

nơi đồng bằng trải rộng. Một đồng bằng là tất cả nó, và bãi biển

 

biển, biển

đây là bãi biển nơi chúng ta không bị tẩy rửa mà bị phơi khô

xóng xoài, trắng bệch   Cá đuối –

 

tôi có được một con mắt

chốn này phải chịu

đó là tất cả những gì xảy ra, đó là tất cả những gì đã xảy ra ở đây

 

có thể vẫn có những mảnh xương trong lòng đất

Metapontum, trái tim

đây là lời hứa

tôi có được một con mắt

 

biển, biển

 

nơi chốn này đã chẳng thấy anh  Hỡi kẻ chối từ

tình yêu nào anh muốn đưa ra thế

 

Hẻm núi Đồng vọng[§]

 

Khúc xương màu đỏ

đá ngầm trong hẻm vực sông

nơi nàng được tìm thấy

 

rít lên ken két

giọng

 

của lưỡi cưa, ngươi là tạo vật nào

bên dưới tảng đá

 

năm sải

nước sâu, ơi san hô

 

Gần Subotica[**]

(cho Danilo Kis)

 

Chó hoang. Đường tàu. Đồng ngô quanh Subotica

Mặt trời trắng

 

vết bánh xe gánh xiếc rong trong bùn, những chiếc cọc trên mặt đất

ánh sáng mà những lá cờ đuôi nheo để lại trong không trung

 

một chiếc thuyền lớn mắc lại trong phong cảnh, người đàn ông

tóc màu nâu lông chiên từ trong đó nhìn ra

 

Từ tấm thân cao ba tầng anh nhìn ra cánh đồng

chuyện trò với những cái anh nhìn thấy: cánh đồng của ai

 

này cánh đồng, hãy trở lại như  xưa

lúc chưa xảy ra trận chiến, lũ chim hét có mi cho chính chúng

 

Giọng nói nhạt nhoà, khàn khàn, trong sương mù

một doi đất màu xanh thẫm, con tàu của chúng ta

 

Đi dọc Sava[††]

 

Thành phố lắm mồm, cà phê đen phập phồng trong câu chuyện tán gẫu khắp trong cái thế giới léo nhéo những giọng nói khói mù. Tiếng vọng

những cánh rừng bị đốn vang đến cùng những luồng hơi nóng,

từ bếp lò màu đen trong góc nhà.

Một tấm biển màu đỏ và trắng đu đưa một cách nguy hiểm ngay trán tôi

khi một trong hai cô gái sinh đôi bước đi cùng tôi

dọc sông Sava

Dưới cầu khối bê tông quái dị, nhựa đường ngáp

– anh trở nên

cáu bẳn, gần sát mọi thứ đang gãy đổ, và cảnh giác

với các màu   có một màu xanh Balkan    một màu xanh tái, xanh câm

 

Rosa, Vòng hoa nhỏ

(tặng Rosa Luxemburg)

 

Rosa, cửa mở ra

một thế giới, tất cả

 

trong Tháng Ba sinh ra

Tháng Giêng đã chết

 

Chim cổ đỏ, góc xiên đen

 

Khập khiễng và nhìn xéo

đúng gần bên, chạm vào nan lồng

cận thị

 

quả mọng, xương chim

cánh đồng, da trần

 

ngôi sao bị giật phăng, cạnh màu vàng      bóng tối đêm

thật đẹp nếu ta biết cách nhìn

 

Nếu có một bồn nước

bên ngoài khu vườn bệnh viện, thì từ đó bạn sẽ nghe

 

tiếng ngân rung, đồng xu

và nếp nhăn của mặt nước

đáng ngờ như một nụ cười

 

điều ấy làm bạn vui lên, quá mức,

vì thế giới đang ở đây trong tất cả sự hữu hùnh của nó

như ánh sáng

 

đó là cái phải nhìn thấy

 

Rosa, nụ cười

cái bị bỏ qua

trong cái nghĩa rộng nhất của từ này

 

nó cũng mỉm cười với    chính nó

khi nó bắt trượt

sự nhẹ nhõm

 

dòng sỏi cuộn, tiếng chim

tai căng nghe thế giới

kết nối rong rêu với tiếng khóc than

 

chợt thấy, bầu trời căng ra, giả hình những con vật

mây bước đi

mọi thứ qua đi

 

và toàn bộ cuộc chiến vinh quang đi qua trước mắt tôi…

 

 

 

Sonnet từ Bóng của một món quà

 

 

Ngày của Thánh Cecilia, Ngày của Paul Celan[‡‡]

sau và trong mỗi ngày ấy

niềm vui mỏng manh của sự đơn điệu

mưa phùn không màu chầm chậm

Nhạc cận thị trên cánh đồng

Sức nặng là cái mình nên cảm thấy

Chỉ một kiểu ánh sáng

trong những dải neon và màu trắng đồ hoạ

Trên cao một ngôi nhà

nguyên khối và xám sương mù

là điều kiện

cái khẩn cấp, cái dịu dàng,

toả khắp, vượt qua

từ anh

 

 

 

Lối mòn

 

 

Sáng rỡ lệch nghiêng

một lá thiếc trên cánh đồng

tuyết, vết chân anh

Con chồn

nhìn cái không ai nhìn thấy

ánh sáng yếu ớt của anh

mắt trong veo

giờ đây anh chuyển màu vàng

và trở về màu trắng

hoàng tử đáng yêu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

EVA RUNEFELT

(qua bản tiếng Anh của Frank Perry)

 

RUNEFELT, Eva, sinh năm 1953 tại Stockholm, lớn lên ở Täby – thị trấn nằm ở phía bắc thủ đô, hiện nay bà sống ở Stockholm. Runefelt khởi đầu văn nghiệp vào năm 1975 với tiểu thuyết I svackan (Trong hang thú) nhưng sau đó bà quay sang thơ và mau chóng được công nhận là một trong số những nhà thơ trữ tình quan trọng nhất của thế hệ mình, và sau đó là của toàn bộ nền thơ hiện đại hậu kỳ của Thụy Điển.

 

Sáng tác của Runefelt không thường xuyên nhưng có sức nặng, nhất quán, không chỉ đôi lúc yêu cầu cao và mang tính thể nghiệm, mà thường trực tiếp và quyến rũ. Đó là một thứ thơ luôn tìm tòi, nói đến những vấn đề siêu nghiệm như bản chất của ký ức, hiện diện của người chết và những hình thái của thực tại – và sự tìm kiếm thực sự một ngôn ngữ cá nhân, khác biệt và siêu nghiệm cho những hình thái ấy.

 

Có thể nói đề tài bao trùm của Runefelt là sự ưu thắng của những cái vĩ đại  chứa đựng sự đối lập giữa xác với hồn, cảm giác với tâm trí, hữu cơ với vô cơ, hiện tại với quá khứ, và bà tìm kiếm một nơi chốn trong ngôn ngữ ở đó sự chuyển động và thay đổi giữa những mặt đối lập ấy có thể nhìn thấy được; một thời điểm hay đỉnh điểm mà những mặt đối lập hầu như trở nên hợp nhất. Câu thơ có vẻ mang hình thức tự do của bà thực ra khá kỹ càng cả về đường nét lẫn trí tuệ, thường đẹp một cách tinh tế, cá nhân nhưng không bao giờ tự kỷ trung tâm, đôi khi có sắc thái hơi cổ kính, điều ấy đánh dấu tính vượt thời gian của nó kể cả khi nó thuộc về xu hướng hiện đại hay hậu hiện đại.

 

 

 

Hoa cẩm chướng

 

Một chùm

chớp mùa hè,

những ánh chớp màu hồng sâu thẳm

 

Xuyên qua ô kính cửa sổ những con chim lớn

của hơi ẩm và bạc

chia cắt núi xanh một cách dễ dàng: bên trong

vẻ huy hoàng màu đỏ máu của hòn đá bí hiểm kia

khi bàn tay chúng mình đã trộn vào nhau

trong đôi găng tay màu đen của anh

Quả cầu thái dương phía sau một màng tro

và những con ngựa màu xám từ các ống khói

Những cái đầu long ra khỏi thân

Giữa góc phải của miệng em

và má trái của em

anh trồng một bán nguyệt bất ngờ

có vị hoa cẩm chướng

 

Đất lấn biển

 

Giống như những bóng hình dật dờ

lũ ngựa còi gặm cỏ

trên mặt nước màu xanh sáng

Đàn súc vật biến hiện

trong ánh sáng xiên, ánh sáng trí tuệ

Không trọng lực

Đó là sau phục sinh, Tháng Tư

đất đai rộng lớn nghỉ ngơi

qua nhiều năm

bắt rễ mùa cây cỏ mới

Những chú chim sống trong cỏ, những con đường viền hoa hồng dại

Và ánh sáng đêm màu đỏ như son

Còn chưa bung nở

 

 

Tháng năm

 

1

Những thần tượng giết người bị quyến rũ vào các bát điếu

Tỏa hơi nhựa đường và mương rãnh

và cùng mọi người đi qua cao ốc

trong tiếng kêu nhẹ nhõm của chim muông

 

Bọn trẻ hối hả chạy trước ngọn gió vào trong màn mỏng khói sương

chúng không bao giờ đi đến cùng

trong ánh sáng khô khan chúng ta chỉ tình cờ hiện ra

quanh những bộ xương của mình

 

Đất mịn óng hai bên cửa sổ

và một ngón tay thảo những chữ đầu tên

Thạch nam và hoa tháng năm, giờ đây là cúc trường sinh

 

2

Qua tấm kính ám khói

đất và không khí nóng chồm lên

 

Những người bé nhỏ hét la

dán mình xuống đất họ nghe thấy

 

Những con mèo trong luồng ánh sáng đang lên

trên khuôn cửa và tường nhà

 

Niemisva, luồng sáng đầu tiên

đang trở lại

 

3

Trong vườn những cao ốc chen chúc

rỉ thiếc, củi kho

tiếng rì rầm mệt mỏi, chập choạng ánh sáng lốm đốm

 

Những đôi giày nặng vang lên qua giếng cầu thang

 

Da bay phía trên xương mũi và quai hàm

Sợ hãi dọc theo cổ tay và họng

Trong vườn lúc này vừa có bóng ai

 

4

Sự vật đã ngưng lại

 

Từ chất liệu của nhanh và chậm

cứng và mềm

những thực thể đang đến

 

Da bứt rứt

Những màn che phủ đã cất lên, những cái siêu phàm

tiết ra thứ bột rây nhè nhẹ

 

Đường bay của chim

 

Đội hình chim, cuộc du hành thư thái

Du hành với cây sồi, bay lên cao

hướng về một căn phòng, mở và quay

về phía đêm

 

Xuyên qua bóng tối thoi thóp, một hạt muối

trong chuyển động nguyên sơ của nó

va chạm giữa hai con chim

Và trong tiếng kêu của chúng

chúng giống như sự lớn lên của một cái cây

 

Chính là trước khi nhìn thấy, với giờ phút

Lắc lư đánh thức giống loài chúng ta hướng về rạng dông

Dấu hiệu trên cao sự chiến thắng của cây, lũ chim rơi

vào trong chúng ta

 

Đêm sẽ đi vào ẩn náu

trong những trái táo lớn mùa đông

 

Một khát khao tồn tại

khiến cho mọi vật bắt lấy ánh sáng

 

Xuyên qua bóng tối thoi thóp rạng đông bước đi

Đêm chết vào trong bàn tay

khép vòng một trái táo

 

Chúng ta lần lữa, đem rạng đông

vào đêm, đem lời nguyện cầu của hạt muối ấm áp

cho sự sống

 

Chua-gắt ban mai đầy thèm muốn được giữ gìn

trong cú chộp thình lình của cây sồi

chúng ta vút lên như thể cùng bày chim

 

Ban mai, trần trụi

 

Âm thanh mở ra đến âm tiết

Hạt muối chìm trở lại, du hành thư thái

Du hành cùng người chết

và kẻ chưa sinh ra trong ngọn cây

Cây cối tôn vinh ban mai

ra khỏi màn đêm tôn vinh con người ra khỏi bóng tối

 

Hành động

 

Mạch của anh đập trong miệng

hợp nhất cùng em

Hơi thở luân chuyển qua hai miệng

Mí mắt, gò má nhỏ trong miệng, cảm nhận cái nhìn đăm đắm bên trong

nó đến đây, cùng với em, từ con ngươi đen nhức

 

Đặt mọi khuôn mặt xuống nước

những nét ấm áp, trải rộng, quét

một vệt dài ở đó, nơi vai hích vai,

có đủ chỗ bên trong,

Để thành một con người bốn mắt

bốn chân, hai giọng

ngâm nga thành những tiếng động

Hãy nằm yên

Lung linh của mắt, gò má nhỏ trong miệng. Lập lòe.

Một màu vàng nghệ. Cái nhìn đăm đăm của anh trong miệng em

đặt nó nằm dưới lưỡi.

Bây giờ hãy lặng im

Giờ phút màu trắng này

đang quay trong bóng tối

nhức nhói, lấp lánh.

 

Bàn tay từ tiếng động

ôm siết gáy

 

Những cái rùng mình dồn dập tới

từ sự bất động,

mực, trái táo

rau thìa là, mồ hôi

Một khe hở, một cái miệng

rơi vào trong và bên trong miệng

một tiếng động

Em muốn đi qua

vào trong tiếng động

Hãy nằm yên

 

Lên đường

 

Giờ trước lúc lên đường

Một bàn tay đè nặng lơ đãng

khói cà phê

Mưa ngoài kia

Giờ trước lúc lên đường

mỗi người một ghế riêng

trong một không gian được sưởi ấm

đầy du khách

Không khí uể oải giao mùa

và vùng đất chúng ta vừa yêu cầu

đã chuyển dời, đã trôi theo gió

 

Lát nữa trong máy bay

có người mắt mở

mơ đển Rocky Mountains[§§]

và lòng bàn tay co lại

giấu một mùi sắt mỏi mệt

 

Chúng ta nói:

Trong lòng đất những con ve nán lại

nặng nề và chắc chắn cùng bóng tối

để rồi mau chóng được tràn đầy

thứ ánh sáng chúng chưa từng thấy

nhưng luôn giữ trong lòng

Có một thời gian được đếm

dọc theo một khoảnh khắc vô cùng

khi tôi để cho mình ngơi nghỉ

trong lòng đất, chúng ta được phục hồi

trong trạng thái không trọng lượng

Có lẽ vì thế

nặng nề và chắc chắn

chúng ta đi

mà không hề ngạc nhiên vì nhau

 

Giờ trước lúc lên đường

Mưa ngoài kia, chúng ta tìm chỗ trú

trong cơn mưa đang trở lại

 

Cô độc

 

Thời gian nằm dẹp như giấy mỏng vắt qua những đụng chạm

Sự chạm trán còn đó, tuy chẳng có ai, giạt trôi

lui tới

Không biết mình ở đâu

Sự cô độc, một bàn tay có thể đẩy thẳng thấu qua nó

Một tiếng dội làm chùng sức ép rất nhẹ

của một ký ức

Đó là chỗ mình cựa quạy

 

Người chết lười nhác

 

Họ bước đi ban ngày

sự lơ đãng của họ

hấp thụ cả căn phòng

Hãy dừng lại

Rồi người chết sớm tìm ra gì đó

để đánh bóng

và có thể rút lui

Họ ngủ cuộn trong những mẫu khuôn

sẵn trong đầu người sống

Đường viền màu xanh và trắng, âm điệu màu vàng

Họ thức dậy khi

ai đó làm lắng một mùi hương,

viền một miếng vải

Chúng ta ở đó, giữa bọn họ

lần lượt nhớ

nhau

Cái bát tròn và lặng lẽ

truyền tay sang tay

 

Trải ra trong lòng bát

miếng vải giữ kín ý nghĩ trong đầu

 

 

 

Vắn tắt

 

Họ đến không chờ gọi

Những kẻ nằm đã lâu

tự nằm nghiêng một bên

Trong sự vĩnh hằng vắn tắt

của người chết

họ tìm được chỗ

Trong sự ngạc nhiên

của ai đó từng bước

bị chính mình bỏ rơi

người đã chết có thể xuất hiện

 

Sau đó là bóng tối dịu dàng

Ra đi trong sự điên rồ

không ai biết

Của một thằng ngu khác

trong quãng đời còn lại

 

Thuộc tính của Thượng đế

là không phải tự mình

trở thành sự vắng mặt của chính mình

 

Xung quanh ánh sáng của Jan Vermeer[***]

 

Ánh sáng màu vàng hoe và bóng màu nâu

trong nhà, vào trong nhũng cái bát không men,

vải váy màu đen tím

 

Trên nền cây lúa mì mọc chầm chậm

Một bờ vai màu vàng bơ, tròn như một nốt nhạc, chìm

như chiếc môi trong nước tối đen, xuống chiếc tạp dề thắt chặt

Sức nặng của cái hũ trong vòng tay,

sữa no đầy bình

 

-hay một thoáng giấc ngủ trên thái dương dựa vào bàn tay

Nhũng trái cây giữ lại hơi ấm của căn phòng

xung quanh giấc mơ, sự nghỉ ngơi màu đen, mềm mại

 

Một gương mặt chưa nhin thấy cư ngụ trong tôi

chỉ có ở đấy nó mới sống được

ở bên cạnh chính nó

như thần thánh chỉ sống trong sự vắng mặt của minh

 

Ánh sáng màu lúa mì trong bóng màu nâu

dọc theo một cẳng tay, một cây cello

 

Những vật thể nhồi căng mà không phòi ra

Nếu tôi ở đó

… một tấm mền nặng như thân người ngồi trong lòng tôi, vuốt ve cây cối, những vòng trang trí

và mẫu trang trí màu nghệ với những chiếc móc

đưa tôi đi lạc, đổ sữa ra, những lối mòn để đi theo,

nghe từng giọt từng giọt tí tách

Mỏng như giấy quyến tuổi thơ bước đi qua suốt căn phòng

thì thầm ở một ô cửa sổ mở

 

Ở đây không có nỗi khát khao

Những vụn xương ánh sáng màu lúa mì trong tiếng ồn màu nâu đỏ

Thế giới có một màu vàng chầm chậm, xuyên suốt không quanh co,

nhắc nhớ qua vải vóc, qua những mặt phẳng ngưng đọng

Sự hiện diện phẳng lặng, bụi bặm, màu mật ong khô

-những thứ được giữ ở bên ngoài thời gian và không gian

nằm sâu vào trong bóng màu nâu

 

Tặng Tina

 

Vào trong tối tăm trống rỗng

thế giới đi

và dừng lại

 

Chúng ta bị bỏ lại

để lần khân

bên một cái cây hùng vĩ

mà ta không thấy được

 

Nó mọc lên chậm chạp ra sao

dù có chúng ta hay chẳng có

 

Lúc

 

Có phải đây là

lúc xác định?

Ôi cái lối nó co mình

cuộn tròn trong phòng

 

Bàn tay tôi hút hết

thời khắc ngắn ngủi, cưỡng đoạt nó

từ thời gian

 

Đó là lúc của tôi

nó không chịu kéo dài

Một trái mọng tràn đầy với giọt nhỏ

mang hương vị của chính nó, sự hoãn lại

chưa thành ký ức

 

Đó là lúc

bàn tay tôi

nắm lấy bản thân nội giới

 

Trung Hoa chốc lát

 

1

 

Thượng Hải xế chiều

giống như bên trong một cái nồi,

khói sư tử cuộn chầm chậm và màu đỏ cớm bóng

Trong sân đền

lửa cháy những cây nhang không tắt

Giữ lấy, cứ giữ lấy

Hai bàn tay tôi rỉ chất ngọt màu xám,

khi chà lên một ông thần bằng vàng diệp đang ngủ,

trở mình, suy tưởng trong mơ

 

Trên dặm dài xa nhà

ta trở thành ai đó không quen

  • một lát ngó sen trên lưỡi

 

Đêm không bóng tối và ban mai trên những ngọn đèn bên

đánh cược với nhau từ những con hẻm, những ngọn đèn lượn lờ

ở khoảng giữa nhà hàng Fragile Heart

và những bài tập trắc nghiệm ở nhà trong một khuôn cửa

 

2

 

Bắc Kinh, thời gian nói lời tạm biệt trong vòng tay ông lão

được khiêng đi cẩn thận từ hông đến đầu

Cái cây màu xám giảm tốc đi vào

buổi sáng đang xải bước

-mọi thứ nằm trọn

trong sự chậm chạp của thành phố

Một âm điệu ngâm nga

rời bỏ ký ức

với sự quả quyết

y như những động tác của con vịt trời đỏ

Nhón chân lên và chìa hai bàn tay

Chẳng có gì trên người không thư giãn

 

Tiếng động của những cây đèn hình chữ nhật

kêu nhức óc từ những cái loa trong công viên

Thận trọng làn da giữ

cho ý nghĩ được che giấu

 

Hãy giữ lấy khoảnh khắc này giữa những cây nhang

kẻo nó sẽ vón lại

 

Nghĩ trên dặm đường dài xa nhà

về người đàn ông chơi với ký ức

Vẫn còn ở đó

Ông nhớ lại thời khắc ấy

hơn là sống

trong nó

 

Tôi bước trở lui

để xếp Khi đó và Bao giờ thành một hàng

Đi qua một người đàn ông ngồi xổm, cô con gái của ông

thảo những chữ nho một cái chổi lông quét lên mặt đá lát

Những ký hiệu khó hiểu chần chừ

như một dấu in mờ trên vỏ não của cô

Những sợi thuốc lá trên miệng ông và

ta chợt thấy những mao mạch li ti trên đầu gối nặng nề của ông

khi ông cân nhắc

một hiện tại khó chịu và một điều mới mẻ

“ta là hôm qua, ta là ngày mai”

 

3

 

Bức tường lảo đảo bước tới cùng những năm

mười hai con giáp

Bao giờ nó cũng được dựng lên từng giây từng phút

Để tin rằng ta có thể du hành

xuyên qua các thế kỷ và trở về

với hai bàn tay trắng

là một trò chơi

Có ai khác ngoài đất và sự phù phiếm

sẽ đi vào

những hình ảnh trong trí não tôi

 

4

 

Trong túi xách đem về nhà, một tiếng cười ha ha của ông bụt và những đô thành

ngâm trong nọc độc của cá bờm vàng

Hôm qua là đây, đây là ngày mai

Và ở giữa, một vầng trăng

đằng sau một bàn tay

 

 

 

Lá thư gửi nhà địa lý

(Jan Vermeer)

 

Thế giới đang yên nghỉ bỗng trượt đi

rơi vào bàn tay

chở ý nghĩ

Bóng hiện lên từ ánh sáng

Ký ức hại người

Ông ở trong Bây giờ của tôi

Và tôi ở trong Về sau của ông

 

Thế giới bắt đầu từ đâu

Trong những chuyển động trườn bò

Bắt nguồn từ cái khăn trải bàn

Nhấc lên một vật, ông nắm giữ

giữa những chiếc la bàn

cái đang tư duy theo cách của nó

ở ngoài cửa sổ

 

 

 

 

[*] Tiêng Phần Lan, có nghĩa là “người độc nhất”. Trong anh hùng ca ‘Kalevala’ của Phần Lan, đây là tên một cô gái đã trầm mình xuống nước khi phát hiện ra là mình phải cưới một cụ già (Väinämöinen).

[†] Johann August Strindberg, nhà biết kịch Thụy Điển (1849–1912)

[‡] Một thành phố cổ đại ở miền nam Italia nằm trên bờ vịnh Taranto, được người Hy Lạp lập nên vào thế kỷ XIII TCN. Pythagoras đã dạu học ở đây vào TK VI.

[§] Bài thơ có thể gợi huyền thoại Hy Lạp về nàng Echo, một nữ thủy thần vì mê thần Narcisse mà chết mòn mỏi cho đến khi chỉ còn là một tiếng vang.

[**] Một thị trấn nhỏ ở Serbia

[††] Một dòng sông ở Serbia

[‡‡] Thánh Cecilia, thánh quan thầy của các nhạc công và âm nhạc Nhà thờ, tử đạo ở Rome nam 230. Paul Celan, nhà thơ Romania Do Thái, cha mẹ ông là nạn nhân nạn diệt chủng Quốc xã; tự trầm mình trren sông Seine Paris năm 1970.

[§§] Dãy núi lớn ở ở phía tây Bắc Mỹ

[***] Danh hoạ Hoà Lan (1632 – 1675)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s