50 năm đi và vẽ

Hoàng Hưng

NĂM 1996, Ở HÀ NỘI VỀ, ÔNG RÚT TÚI TẶNG CUỐN SÁCH TRANH CÓ VẺ TỔNG KẾT SỰ NGHIỆP MÀ ÔNG TỰ CHỤP TỰ IN, CHẤM MỰC NHO VẼ LUÔN Ở TRANG ĐẦU MỘT KHOẢ THÂN RẤT TRỰC DIỆN, VÀ VIẾT: “CẢ MỘT ĐỜI YÊU! CẢ MỘT ĐỜI VẼ! CŨNG LÀ XONG!”.

hoa-si-bui-Cong-nhan-elle-vietnam-featured-image

Vài năm nay, có lẽ từ khi mắc chứng parkinson, ông bắt đầu có những giây phút trạnh lòng của người già. Trên những tấm tranh giấy điệp bày dịp kỷ niệm 50 năm cầm cọ đầu tháng 3 này, ta cũng bắt gặp vài tiếng thở dài như thế: “Thì tôi với ông cũng là cái lọ cổ vứt vào xó!”, “ Tiếng thì thầm bất diệt đến tuổi nặng tai rồi mới nghe”. Thế nhưng, tranh ông nói ngược lại hết, như cái hình mực nho ở đầu cuốn sách nói: “Chưa xong đâu, tớ vẫn còn yêu, tớ vẫn còn vẽ đây!”. Thì đúng hai năm sau cuốn sách, thiên hạ phải ngỡ ngàng giữa khung cảnh tưng bừng phòng tranh mới không ai có thể nghĩ là của một người giữa lục tuần run một tay lết một chân (không kể hàng chục tấm phơi bày những toà thiên nhiên có thể làm nóng lên mọi huyết quản già nua, mà ông giám đốc bảo tàng đã… thận trọng đề nghị tác giả rút về). Và bây giờ, ông kỷ niệm 50 năm tuổi nghề bằng hai phòng tranh khai mạc cùng một lúc ở hai gallery, một sơn dầu một giấy điệp.

luucongnhan_khoathan

“Từ tuổi thiếu niên đến nay ngoài sáu mươi, thường hay đi rong xóm làng, khi cuốc bộ, khi cưỡi chiếc xe đạp, thong thả ngồi vẽ cảnh và người “. Họa sĩ Lưu Công Nhân “tự hoạ” ngắn gọn thế. Với tôi thì hình ảnh đầu tiên không bao giờ phai là một chàng cao lớn bảnh trai mắt miệng lúc nào cũng cưòi rất “đĩ”, vận quần xoóc cưỡi chiếc xe “mifa cởi truồng” nhong nhong trên đường phố Rế ngoại thành Hải Phòng những năm Mỹ đánh phá. Lúc ấy ông đang giữ chân “phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp phụ trách tuyên huấn” ở thôn Tràng Duệ, gần nơi tôi dạy học. Cho đến giờ vẫn thế, sức sống, lòng ham sống từ con người ông cứ tự do ào ào tuôn ra, áp đảo và lôi cuốn, sỗ sàng huỵch toẹt và tinh quái, làm những người nhút nhát vừa sờ sợ vừa thích, những vị “mũ cao áo dài” hoặc tu hành đạo mạo thì nhiều phen lúng túng. Ông làm “phó chủ nhiệm” thực ra chỉ để sống với nông dân, để vẽ. Và đó là một đoạn trong cả đường trường “đi và vẽ” mà ông đã sáng suốt sớm chọn cho mình khi nhanh chóng “từ quan” (một chức lãnh đạo trường cao đẳng ở tuổi 25, đầy “triển vọng” thăng tiến). Nhờ đó mà 50 năm sau cái ngày lên ATK (an toàn khu Việt Bắc) về xóm Chòi, Yên Giã, Đại Từ – nơi đóng Hội Văn Nghệ – theo Thầy Tô Ngọc Vân đi vẽ, ông có thể tự hào nhìn lại: “Hạnh phúc nhất là cả đời được vẽ, sống theo ý thích chứ không bị ai sai phái, trong khi nhiều đồng nghiệp 50 năm thì mất 40 năm… đi họp”. Lượng tác phẩm của ông vào loại khó ai địch nổi: 600 sơn dầu, 100 lụa, 10 sơn mài, khoảng 10.000 màu nước (tạm thống kê đến cuối năm 1997).

Chính ở thôn Tràng Duệ kia, ông đã phác thảo bức tranh xuất sắc được lưu giữ trong bảo tàng Mỹ thuật VN, bức sơn dầu “Buổi cày” (1960). Một LCN định hình một lần cho mãi mãi: ở cái không khí trong trẻo mà ẩm ướt của buổi tinh sương, mặt ruộng nước loang bóng người bóng trâu, run rảy bóng chiếc sào tre, những mô đất những cọng cỏ mà bất cứ ai từng sống ở nông thôn sẽ nhói lòng khi nhìn thấy sau một cách xa dài; ở cái truyền cảm êm, nhẹ, xôn xao khó thấy ở sơn dầu Tây vốn gồ ghề dương tính. Phải chăng cũng từ đó mà có nhận định trong giới hội hoạ: LCN là họa sĩ của thuốc nước. Mặc dù ông là người độc nhất ở miền Bắc trong vài chục năm trước có được điều kiện vật chất và tinh thần để nghiên cứu, thử nghiệm đủ lối vẽ sơn dầu của Tây, nhưng người ta vẫn nhớ nhiều nhất những chiếc vó đại, chuồng chim bồ câu, mái rạ, đường làng, chiếc khăn vuông, áo tơi lá, những chân dung có thần… và hơn cả là cái không khí không phân tích nổi mà ông bắt được rất nhanh ở “dọc đường” (nhà văn Tô Hoài viết: “LCN – người của dọc đường kháng chiến và bình yên”). Riêng với tôi, có thể nói một thoáng heo may tạt chéo áo người thiếu phụ trong một ký họa màu nước của ông treo ở phòng tranh Hàng Đào đầu những năm 60 đã đưa tôi vào thế giới hội hoạ. Một cái gì rất Thạch Lam.

luu-cong-nhan

Những sơn dầu đặc sắc của LCN đều có cái không khí mơ hồ và cái chất loang mềm của màu nước như thế (tôi muốn nói rõ là màu nước VN, chứ màu nước của thuỷ mặc Tàu lại khác, vẫn có gì đó nghiêm nghị, cứng, mặc dù tinh tế). Từ “Làn khói trắng” ( 1954 ), “Bát nước”, “Lô cốt ven đường”, đến “Điếm canh” (1979), “Sương sớm Ba Vì” ( 1993 ), “Tắm” (1993)… Và nếu như ông, một cách vô thức hay ý thức, đã “màu nước hoá” sơn dầu của mình, thì có phải ông vẽ “không ra” sơn dầu, hay ông đã tìm cách cho sơn dầu một tinh thần Việt? LCN ngày càng ý thức về việc này. Ông thường nhắc một câu hoạ sĩ Thái Tuấn nói với ông sau 1975: “vẽ sơn dầu như Tàu, thủy mặc như Tây “. Gần đây ông hay khoe “Những tranh sơn dầu về sau vẽ nhanh như thuỷ mặc”. Mới nhất, ông lại khẳng định: “Sơn dầu không đi đến đâu” và kể rằng: hồi sang tây xem bảo tàng Louvre, thấy những tấm sơn dầu lớn của các “mét” đã xuống màu, trong khi các bức phác thảo màu nước treo bên dưới để đối chiếu thì vẫn đẹp tuyệt vời, đến mức ông phải túm lấy một bà đầm không quen đứng bên để kêu lên: “Đẹp quá phải không bà”. Những tranh sơn dầu gần đây của LCN có xu hướng mỏng hơn, trong hơn, nhẹ nhõm hơn. Ông vẽ đi vẽ lại nhiều đề tài cũ, mỗi lần thế, dường như cái thực càng bớt đi, cái hư càng tăng lên.

LCN-hoa

Đời sáng tác của LCN đã qua ba giai đoạn rõ rệt: Cho đến đầu những năm 60, ông vẽ bằng cảm nhận trực giác những vẻ đẹp dọc đường. Đến giờ nhìn lại, ông cho đó là những tác phẩm đẹp nhất của mình. Nhiều người cũng cho các phác hoạ màu nước của ông hồi ấy không một danh hoạ nào của nước ta qua nổi. Sau đó, một thời gian dài, song song với cách tự nhiên ấy, ông loay hoay tìm học những lối biểu hiện mới ở các trường phái hội họa hiện đại phương Tây. Giữa chiến tranh, ông lên rừng Thác Bà dựng nhà đóng cửa vẽ những tranh siêu thực, trừu tượng cỡ lớn (trong hoàn cảnh ấy là một thách thức rất lớn “hao người tốn của hại danh dự”). 1975 vào Sài Gòn, ông tiếp tục tìm tòi theo con đường ấy. Ông là hoạ sĩ miền Bắc duy nhất nghiên cứu được tất cả nền hội hoạ Sài Gòn thông qua các đồng nghiệp còn ở lại khá đông chưa di tản (có vị quan chức văn nghệ nọ đã đòi “trục xuất” ông ra Hà Nội vì sợ “ảnh hưởng đến việc cải tạo văn nghệ sĩ chế độ cũ”). Ấy thế mà… đầu những năm 90, nhiều người chứng kiến một LCN “quay ngược 180 độ”: ông trở lại miền Bắc, xây một ngôi nhà gạch ba gian ở quê nhà Vĩnh Phú, thuê các em người mẫu nhà quê đẹp e ấp và trong trắng, vẽ các em tắm… và tìm lại những cảnh dọc đường mà ông đã vẽ ngày xưa, để ngồi trầm ngâm ngắm lại và vẽ lại. Ông cảm động gặp lại những cổng làng, con trâu cày, những cô bé ngày xưa đứng xem mình vẽ giờ đã 30-40 tuổi, những ông già 70 “mày tao chi tớ” dọn sẵn mâm rượu chờ ông vẽ xong là chén chú chén anh. Không hiểu sự bất lực trong tìm kiếm ngôn ngữ hội hoạ thuần túy đã đưa ông “về nguồn” hay việc trở về những kỷ niệm thân yêu đã khiến ông “bừng tỉnh giữa tháp ngà”. Ông bỗng giật mình: “Những con đường cao tốc sẽ giết chết những quán ven đường quí giá với hoạ sĩ VN”. Ông bỗng hoài cổ. Ông than: “Thế là vĩnh viễn hết một làng gốm, Hương Canh ơi!”. Ông muốn làm Nguyễn Bính níu lại những vẻ đẹp nhà quê sắp mất. Và ông lớn tiếng cảnh cáo các bạn trẻ đang (giống ông trước đây một thời) chạy theo các trường phái môđéc xa rời hiện thực. Ông “chiêu tuyết” cho quan niệm “tả thực” có vẻ như đang chờ bị tống vào bảo tàng lịch sử: “Tả thực không hề nhàm chán, vấn đề là người vẽ nhàm chán. Hãy tả thực qua con mắt đổi mới”.

luucongnhandpq

Có người bảo: LCN nghiên cứu rất kỹ hội họa hiện đại (ông là người có kiến văn bậc nhất trong thế hệ các hoạ sĩ đào tạo trong kháng chiến chống Pháp), nhưng ông không có tâm thế của người nghệ sĩ hiện đại – những người phải trực diện với nỗi cô độc nội tâm thăm thẳm hoặc chịu dồn nén bức bách của ngoại cảnh, cho nên cuối cùng ông đã tìm về đúng mình, về đúng nơi xuất phát – người nghệ sĩ bồng bột yêu đời yêu thiên nhiên, trung thành với truyền thống bắt chợt cái đẹp giữa thiên nhiên của chủ nghĩa ấn tượng. Bởi thế tranh ông không làm ta mê mẩn hay chấn động, nhưng luôn cho ta niềm hạnh phúc hưởng thụ vẻ đẹp của cuộc đời, dù cái đẹp của tấm lưng trần có ngấn nịt ngực hay cái đẹp của bóng tre lả xuống mặt ao. 50 năm, vẫn một lòng yêu như thế không hề giảm sút.

(Tạp chí Thế Giới Mới, 2008?)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s