Ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại (nhìn từ giá trị nghệ thuật thị giác trong thơ Ly Hoàng Ly)

Lê Thị Thanh Tâm

14591756_380045995718537_3964030933552883545_n

Rất khó khước từ cuộc “hôn phối” giữa thơ và các loại hình nghệ thuật khác trong những bước chuyển di của thơ ca đương đại ở Việt Nam. Chế Lan Viên có một ý thơ rất hay: “Xưa tôi làm thơ, giờ thử để Thơ làm”. Tất nhiên, đó là một cách nói, một phúng dụ về quá trình sáng tạo thơ (sáng tạo, không chỉ là sáng tác). “Thơ làm” thì cũng là “tôi làm” thôi, nhưng từ “tôi làm thơ” đến “thơ làm” là hai biên độ khác nhau của “sự làm thơ”.

“Tôi làm” thì thơ là kết quả của một quá trình, và “tôi” là thứ ngoài thơ nhưng áp đảo toàn bộ ý nghĩa thơ (Tôi làm thơ thì cái thơ ấy có thể không hẳn là thơ). Nhưng “thơ làm” thì thơ không còn là kết quả (không chỉ là kết quả) mà trở thành điểm phát khởi mà cứu cánh và mục đích đều vì chính nó. Khi ấy, cái “tôi” đã “vong hoá” thành công vào toàn bộ quá trình rọi lên những ảo ảnh cũng như sức sống của nhịp điệu vào ngôn từ. Khi ấy, thơ là “thơ ròng”.

Kí thác vào di cảo của mình những “triết luận thơ”, một cách tự nhiên, Chế Lan Viên cho thấy nhiều yếu tố “đương đại” và dự cảm nhiều biến chuyển “đương đại” của ngôn ngữ thơ Việt Nam. Loại thơ “phác thảo”, cách thể nghiệm thơ văn xuôi, tư tưởng ủng hộ cái “thô bạo”, “cộc cằn”, “so le” của thơ “tuổi thanh xuân” mà Chế Lan Viên đề xuất từ sớm (nửa sau thế kỉ XX) ngẫu nhiên góp phần vào cái nền tảng dữ dội và táo bạo của một dòng chảy thơ đương đại sẽ đến vào cuối thế kỉ XX. Cùng Chế Lan Viên, những tên tuổi làm nên thần thái, đường nét của cuộc “nổi loạn” sang trọng về ngôn ngữ thơ thuộc về Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Dương Tường… Sự cực đoan trong thể nghiệm ngôn ngữ ở họ, mặt nào đó, là cái lý của niềm tin vào sức mạnh tự do và sự vô hạn của ngôn từ. Nếu Trần Dần chôn lấp các thành tựu đã ổn định của thơ ca tiền chiến bằng cách tạo ra lối thơ giàu tính“ám thị”, kiến tạo nhịp điệu mới, hướng tới tiếng nói nội quan, nội cảm, nội tâm triệt để thì Lê Đạt lại đi theo hướng “phu chữ”, tạo ra hệ thống mỹ cảm mới bằng cả trí năng, cảm năng để “chơi” với ngôn từ, khai sinh một lối thơ mới “haikâu” (biến thể của Haiku Nhật Bản thành loại thơ hai câu của Việt Nam). Đặng Đình Hưng và những vần thơ kì bí của ông là một “biến tấu” khác thường về tiếng Việt, một kiểu cấu trúc làm toát lên một hồn thơ kì đặc, cô đơn, mộng du, mê sảng. Trong khi đó, Hoàng Cầm lại đặt nền móng cho một loại ngôn ngữ thơ chứa chan “thi cảm”, hoà trộn hồn nhạc Kinh Bắc với những khám phá mãnh liệt về nội tâm, chuyển hoá hồn thơ hiền dịu thành những suy tư về phận tình, phận người. Gây ấn tượng ở tập trung vào việc chủ trương bản chất “con chữ” là “con âm”, Dương Tường cho rằng sức gợi ngôn từ nằm ở mặt chênh của chữ, “một thứ âm bồi hắt lên mặt chữ”. Danh sách những người mắc “duyên nợ” cách tân ngôn ngữ thơ đương đại nói chung vẫn còn dài: Lưu Quang Vũ, Thanh Thảo, Nguyễn Lương Ngọc, Ý Nhi, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Phùng Khắc Bắc, Inrasara, Thi Hoàng, Ly Hoàng Ly, Vi Thuỳ Linh… , chưa kể nhiều câu thơ, ý thơ của một số tác giả đột xuất đó đây mà “đường nét” đương đại rất gây ấn tượng như:

“em đã quên sa mạc

quên vị máu từ cổ con lạc đà trong cơn khát

cơn bão quét qua

và mọi thứ trở về hỗn độn

cát rơi khỏi giày

em

không chắc mình còn sống

 

Có thể ta chỉ là giấc mơ của ai đó

trong buổi chiều chạng vạng

nhưng có hề chi

(Khương Hà)[1]

 

Con đường chuyển động

hàng cây ngắm nhìn

trần gian qua mắt lá

Anh dừng lại trên đỉnh thời gian

Những vòng tròn hình trôn ốc

Lũ kiến bò qua những phận người không toàn vẹn

(Hoàng Diệp Lạc)[2]

Có nhiều cách gọi tên, định danh, phân loại các hình thức diễn đạt thơ đương đại thành nhiều đặc tính; song cái lớn hơn, đáng để lưu tâm là cái gì chuyển hoá công cuộc cách tân thành tinh hoa? Những sáng tạo trở thành tinh hoa sẽ tiềm ẩn những cách lý giải tinh hoa, tiềm ẩn sự cắt nghĩa một cách tinh hoa. Đương nhiên, tinh hoa cũng không phải là thứ để tán tụng. Người đọc cần nó để “vin” vào, để tin có sự thay đổi thực sự và tin sự thay đổi ấy là sự sống của thơ.

Bài viết này quan tâm đến hiện tượng thơ Ly Hoàng Ly bởi sự biến đổi ngôn từ trong thơ chị hàm chứa nhiều cách giải thích về khả năng khai phóng trong tư duy cách tân. Hơn nữa, với tư cách là một nghệ sĩ thị giác (hoạ sĩ, nghệ sĩ sắp đặt), Ly Hoàng Ly có thể là một minh chứng hiển nhiên về sự gặp gỡ của các loại hình nghệ thuật mà sản phẩm sáng tạo của chị sẽ cung cấp thêm những định nghĩa mới mẻ về thơ.

  1. Thơ và nghệ thuật thị giác gặp nhau ở đâu?

Sự giao thoa của thơ và nghệ thuật thị giác trước hết là cuộc đối thoại đặc biệt của các loại chất liệu. Thơ thuộc về nghệ thuật thời gian (temporal art), trong khi nghệ thuật thị giác thuộc về nghệ thuật không gian (spacial art). Chất liệu của thơ là ngôn ngữ, chất liệu của nghệ thuật thị giác nói chung tập trung vào tất cả những gì mà đôi mắt con người có thể nắm bắt: hình khối, màu sắc, đường nét, chuyển động tạo hình trong không gian… Vậy, ngôn ngữ cũng có thể “tạo hình” thay vì xuất hiện tuyến tính theo thời gian không? Có. Bản chất ngôn ngữ có thể “thoả hiệp”, tương ưng với những gì nó ám thị bằng cách tận dụng không gian trên trang giấy để tạo ra “đường nét” của tư tưởng mà nó biểu thị. Ví dụ các hình thức làm thơ dưới đây:

[nguồn: Triển lãm thơ thị giác và nghệ thuật ngôn ngữ (Toby Fitch), http://www.bansacviet.org/nghe-thuat/trien-lam-tho-thi-giac-trien-lam-tho-thi-giac-va-nghe-thuat-ngon-ngutoby-fitch/]

Trong trường hợp này, hình dáng, cách trình bày bài thơ liên quan đến “nghĩa” của bài thơ, đồng thời cũng là một trong những yếu tố “nghệ thuật” cố ý của nhà thơ. Nhìn chung, có ít nhất 2 mô thức thơ gắn với kĩ thuật, nghệ thuật thị giác:

  • Cách trình bày một tập thơ với dụng ý sắp đặt hình ảnh
  • Cách tạo hình cụ thể của dòng ngôn ngữ

Trường hợp Nguyễn Vỹ với bài Sương rơi được Hoài Thanh nhắc tới trong Thi nhân Việt Nam (1935) có thể được xem là cuộc giao thoa sớm nhất của thơ hiện đại Việt Nam và nghệ thuật thị giác.

Sương rơi

Nặng trĩu

Trên cành

Dương liễu …

Nhưng hơi

Gió bấc

Lạnh lùng

Hắt hiu

Thấm vào

Em ơi

Trong lòng

Hạt sương

Thành một

Vết thương

(…)

(Theo Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh)

Từ vóc dáng “hiền lành” theo kiểu dùng hai âm tiết và trình bày xuống dòng liên tục nhằm ám gợi sự đều đặn, nhỏ nhoi của giọt sương rơi như trên, thơ Việt tiến dần đến kiểu vắt dòng hiện đại và “dữ dội” hơn trong thơ Trần Dần:

Đi đâu?

                     Đi

                         đâu

                             ra

                                 khi

                                     TRN GIAN – BA CHIU

(Trần Dần – thơ, Nxb Đà Nẵng, 2008)

Tuy nhiên, thơ thị giác không phải là chủ đề của bài viết này. Bởi đó vẫn chỉ là sự gặp gỡ về “hình tướng” của nghệ thuật thị giác và ngôn ngữ thơ. Con đường gặp gỡ bên trong phức tạp hơn nhiều. Chất liệu tinh tế được chắt lọc từ chiều sâu giao thoa các mô thức nghệ thuật, sự lắng đọng của nhiều tiếng nói hướng đến sáng tạo là điều khó được thành tựu, nếu người sáng tạo không sở hữu tư chất nghệ thuật sâu sắc và vững vàng. Hiện tượng Ly Hoàng Ly và thơ ca của chị cho thấy một hướng đi độc đáo của thơ đương đại của người Việt, dù điều này chưa bao giờ nằm trong mong muốn “lập thuyết” của một nghệ sĩ thị giác như chị.

Thơ Ly Hoàng Ly có đặc điểm, thần thái của loại thơ thuần nghệ thuật, được đẩy đến phần cao trào, cực đoan nhất có thể có của mỹ cảm. Yếu tố nhịp điệu, cảm xúc trực tiếp, tác động trực tiếp vào tình cảm người đọc hoàn toàn được chọn “hy sinh” cho khoảng cách tâm lý cần thiết nhằm thiết lập sự xuất hiện trọn vẹn của “dư ba nghệ thuật”. Phần nghệ thuật của thơ được làm ra trong bối cảnh cuộc trò chuyện của nhiều loại nghệ thuật, tạo nên một số “chủng tử” mới trong nguồn từ vựng của thơ, của ngôn ngữ nghệ thuật Việt Nam ở thời điểm hiện tại.

Chầm chậm, mở một chiếc nút áo

Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo

 

Chầm chậm, mở ba chiếc nút áo

Soi vào gương, chầm chậm, mở chiếc

nút thứ tư

 

Chầm chậm, mở năm chiếc nút áo

Soi vào gương chầm chậm, mở nút thứ sáu…

 

Tìm hoài không thấy nút thứ sáu

Soi vào gương, cố tìm nút thứ sáu,

nút thứ bảy, thứ tám, thứ chín…

 

Mở mãi, muốn mở mãi

Mở bầu trời đêm trong lồng ngực

 

Nhưng áo chỉ năm nút

Nhưng đêm là vô tận

 

Mở mãi, muốn mở mãi

Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm

 

Mở mãi, muốn mở mãi

Bầu ngực này căng đêm

Soi vào gương

Bất lực và khóc

 

Trong vô vàn những giọt nước mắt

Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng.

(Mở nút đêm)

Ý nghĩa dục tính trong bài thơ này, dường như, không có thật. Nó được pha chế huyễn hoặc trong nỗi bất lực thao thức trước cái huyền âm vô tận của bóng đêm, của thế giới, của cái tâm trong ngần mà xa xôi trong chính xác thân này. Tính chất cuồng phóng đương đại và sự tinh tế nghiêm ngặt của nó đã đưa thơ Ly đi rất xa trên hành trình thách thức những cảm thụ mới.

Thơ đương nhiên là nghệ thuật ngôn từ, nhưng trong những tính năng tồn tại khác, nó đã xé rách những cương giới ngọt ngào của vỏ âm thanh, những dòng nhạc điệu dễ bắt nhịp thường thấy để kết giao với các chất liệu ngoài ngôn ngữ. Theo đó, thơ Ly cho thấy một kiểu thơ  không đi thẳng từ nguồn cội cảm xúc, tình cảm thông qua ngôn từ, mà có một lối đi riêng, “khiêu khích” những cảm nhận “hiền lành”. Lối đi ấy kết tụ mọi cảm xúc, tình cảm của người viết vào một “đấu trường” của sự sáng tạo nghệ thuật thuần tuý, nung nấu chúng trong sự chuyển hoá của tư duy nghệ thuật rộng rãi hơn một thứ chất liệu thơ nguyên uỷ là ngôn ngữ:

Tôi nhìn thấy đôi mắt trẻ thơ mọc trên gân lá

Hình dung tôi mọc trên gân mẹ tháng mười hai

(Mọc trên gân mẹ)

Vì thế, khi thơ được viết ra, ngôn ngữ trong đó đã được “luyện kim” ở một chốn khác, khoác thêm nhiều lớp tư duy của hội hoạ, xếp đặt, trình diễn, … để tạo ra một âm vang mới, ấn tượng mới. Lần đầu tiên, trong thơ Việt Nam, có một nhát cạo sát thương dị kì đến mức này:

(…)

Những người đàn bà khô queo

Vì đi lại quá nhiều

Quẩn quanh bức tranh khổ vuông do người khác vẽ

Đi được đến đâu

Khi xác đã bệt lại bởi những nhát mầu

 

Cầm chiếc bay

Cạo xác từng người đàn bà ra khỏi tranh

Thấy mình cũng rời ra từng mảnh

Không đau đớn

(Người trong tranh)

Những câu thơ hiện đại đến rùng rợn và thản nhiên – hồn nhiên như trên sẽ không có chỗ cho những cảm nhận bình dị, cũ kĩ như một sự an tâm về cảm thán, bày tỏ cảm xúc. Người đọc, dù muốn dù không, phải bước qua những cánh cửa mòn sờn để thẩm thụ một cách nói khác, một tâm thế khác, một ngưỡng đọc khác, một khoái cảm không đến từ sự hoà điệu cộng đồng mà đến từ tiếng thống thiết giữa thảo nguyên lẻ bóng của con sói xa. Những ý thơ “lẻ bóng”, “mồ côi” khác cũng xuất hiện trong thơ Ly, theo cách mà không ai “lường” được:

Về nhà

Giấc mơ chim sẻ biến mất

Giấc mơ hải âu cũng biến mất

Chim sẻ thì lon ton quá mà hải âu lại cô đơn quá

III. Tôi sẽ tự mọc cánh

(Giấc mơ)

 

Em ngồi đây

Trên cỏ xanh

Nhưng em thấy quanh mình là cỏ trắng

Cỏ trắng ngập nắng

Tràn vào lòng em

(Cỏ trắng)

Âm vang của nghệ thuật thị giác bộc lộ qua hình ảnh “người nói” trong thơ và “người câm” trong hội hoạ, trong trình diễn. Những “di chứng” sáng tạo trên sân chơi nghệ thuật thị giác không có lý do gì để không lộ ra nơi ngôn từ của Ly. Thơ Ly là sân chơi, là quảng trường kì lạ mà người nói và người câm cùng xuất hiện.

Anh nhâm nhi nỗi buồn

Rồi nhằn ra con mắt

Con mắt để lại vực thẳm

Vực thẳm nhìn anh

(Tranh anh Tuấn)

Lý luận văn học và lối mòn thuật ngữ “nhân vật trữ tình” không thể tìm một chỗ yên ổn trong các sáng tác của Ly. Thơ Ly (không mấy khác những công trình nghệ thuật thị giác của chị) đều có một “người nói” ú ớ bên trong lồng vào một “người câm” có bản ngã, kiểu “người lạ” ấy không phải là hiện thân của loại “nhân vật trữ tình” đối thoại với người đọc (hay sang trọng hơn là độc thoại với tác giả) mà là một “nhân vị” nào đó lấp lửng giữa người sáng tạo và người tiếp nhận, một “chiếc bóng” pha trộn mọi không gian trong hành trình sáng tạo, là những “nhân vật”, những thế hệ các nhân vật, bước ra trùng điệp các ảo ảnh từ các phương thức nghệ thuật khác để tìm cho được một sự xuất hiện dưới chiếc áo của ngôn từ. Họ đào thoát khỏi những chất liệu khác (hình ảnh, đường nét, màu sắc, …) để tự hoá kiếp cho mình vào chất liệu ngôn từ. Bởi vậy, họ có bóng dáng những linh hồn vừa tái sinh:

Người đàn ông áo đỏ đặt điếu thuốc lên môi

Thuốc đốt đỏ gạt tàn

 

Chỗ cuộc đời đã bị đốt xong

Rơi vào gạt tàn

Đổ tàn cuộc đời lên tóc

Tóc cháy thành tóc trắng

 

Đầu ai cũng đỏ lửa

Cháy mỗi ngày để sống

 

Sinh ra để đốt mình

Thành đất lạnh

(Đốt)

Quá nhiều điểm nhìn của “người nói – câm” trong bài thơ. Các điểm nhìn ấy làm nhoà hết giới hạn giữa cuộc tương tác người đọc và người viết. Nó mô phỏng cuộc thưởng thức lạ lùng của người xem nghệ thuật trình diễn và nghệ sĩ thị giác:

Tôi trong phòng trắng

Tại sao to tiếng với tôi

Tại sao nhìn tôi hằn học

Tôi trong phòng trắng

Tại sao õng ẹo với tôi

Tại sao cầm tay tôi rồi giật giật

Tôi trong phòng trắng

Tại sao uống nước mắt tôi

Tại sao cài tóc tôi vào lược

Tôi trong phòng trắng

Tại sao bẹo má tôi

Tại sao rót đầy bia vào giày tôi

Tôi kêu gào

Không ai nghe thấy tôi

Không ai nhìn thấy môi tôi cử động

Tôi trong phòng trắng

Tại sao giận dữ với tôi

Tại sao ném rau xanh vãi khắp người tôi

Tôi trong phòng trắng

Tại sao đi ngang qua tôi mà không thèm nhìn

Tại sao làm cho tôi thương tổn

Tôi trong phòng trắng

Không ai nhìn thấy tôi

Không ai nhìn thấy

phòng trắng

Tôi cũng không nhìn thấy tôi

Tôi cũng trắng như phòng trắng

 

Tại sao tôi lại trắng và lại trong phòng trắng

Đó mới chính là câu hỏi phải được hỏi ngay từ đầu

Nhưng vì đầu tôi cũng trắng nên tôi không có câu trả lời.

(Phòng trắng)

Còn nhớ thời điểm cuối năm 2003, khi dự án nghệ thuật “Xuyên biên giới” (Pushing through borders) được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, người đọc thơ lần đầu biết đến một hình thức trình diễn thơ trên nền nghệ thuật sắp đặt (installation) của hai nghệ sĩ Ly Hoàng Ly và Anida Yeou Esguerra. Sự cộng hưởng hai hình thức nghệ thuật đặc biệt tạo ấn tượng mạnh mẽ với người thưởng thức. Khi đó, Ly Hoàng Ly đã xuất hiện dưới tạo hình người phụ nữ chải tóc và hát ru trong lồng sắt; tiếp sau là màn trình diễn tác phẩm thơ Người đàn bà và ngôi nhà cổ  của chính Ly trong khi âm thanh ma mị từ những chiếc thìa đổ lên rào rào trên người chị. Bài Phòng trắng (trong tập Lô Lô) bên trên nếu tách biệt hoàn toàn khỏi những diễn biến tạo hình và phối kết thơ với nghệ thuật thị giác thì hiệu ứng tiếp nhận sẽ hẹp hơn rất nhiều. “Tôi” trong bài thơ là một nhân vật rất kì dị; hẳn rằng đó không phải là một kẻ mà là nhiều kẻ vươn qua nhiều  thế giới khác biệt để toả bóng trong một chữ tôi. Vì thế, tôi còn hơn cả những sự định danh nghiêm nghị kiểu như “hình ảnh tác giả, nhân vật trữ tình, hình tượng nhân vật”; những định danh cũ không còn đủ sức để cắm sâu nhận thức mới, khi tôi cùng lúc vong hoá liên tục thành các bản ngã câm lặng, khi tôi xuất hiện không phải để tỏ rõ một lý lịch mà để làm nhoà hết mọi nguồn cội. Màu trắng ở đây là kí hiệu, tín hiệu; tôi có lúc nhập vào màu trắng để lên tiếng từ mọi phương.

Bài Sóng đêm (tập Lô Lô) có phần trực diện hơn nữa quá trình hoà trộn thơ và nghệ thuật thị giác:

Những hỗn loạn của ban ngày

Đêm không bắt được

Những nỗi lòng như sông uẩn khúc

Chỉ chảy được về đêm

Tôi lặng lờ trôi vào đường hầm thời gian

Ánh sáng và bóng tối chỉ là chất liệu cho những gì diễn ra bên trong cơ thể

Như nồi súp đặc quánh nhiều gia vị lờ lợ

Tôi sôi lên lọc bọc bằng lửa của mình

Những xe chở cát muốn đem hết cát ngoài biển vào bảo tàng

Nghệ thuật sắp đặt sắp đặt người nghệ sỹ phải lao tâm và mòn mỏi vì những điều không tưởng

                                                             

Những tiếng rì rầm đêm đã váng vất lên bầu trời đen mặt đất đen và vầng trăng nhe Nhói                                                                                                           

Đêm đã quá nhiều gia vị cho người ngộ độc thức ăn cuộc sống

Tôi trở về nằm trên chiếc giường êm màu hồng

Drap giường đính đầy hoa

Hoa khiến tôi ngạt thở dần dần

Ngạt thở dần dần…

Khi giấc ngủ đẫm hương hoa tưởng tượng

Tôi cứng đờ như xác ướp

Những hỗn loạn của ban ngày

Đêm không bắt được

Đêm tỏa sóng của đêm

Tôi – bắt – được – không?

Câu chuyện của Ly là câu chuyện không có chuyện. Nó không có gì để kể, nó không có gì để mô tả, nó không có gì để lĩnh hội một cách cụ thể. Nó là những mảnh rời của cảm giác bị trôi giạt nương theo ngôn ngữ. Nó không phải là một logic tự sự, vì thế, nó là thơ trong bản chất. Những cảm giác bất chợt trong thơ đôi khi là sự rùng mình sâu thẳm của nhận thức trước mỗi bước chuyển của sự sống. Đêm có thể chảy ngược lên không? Có thể. Bởi có hai thứ đêm, một thứ đêm của vũ trụ mang tới, chảy xuống, và một thứ “đêm” của cõi lòng, chảy ngược lên:

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Buốt óc tôi

 

Vắt tóc lên mây

Tôi kéo đêm lại

Tóc rơi nghẹt sông

 

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Máu tuột khỏi tim

 

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Đáy sông khô cạn

Chiếc thìa nhôm đầy vết nứt

 

Tôi khát nước

Ngửa mặt lên trời hút đêm vào miệng

 

Lênh láng trời đen

Nhảy xuống lòng sông

Nằm chờ đêm ngập

 

Mặt trời nằm ốp la trên đất

Thiên thần mút lòng đỏ bằng đầu cánh mỏng

Thản nhiên nhìn

đêm chảy

chảy lên

tôi…

(Đêm chảy lên trời)

Không đơn giản chỉ là thủ pháp; không đơn giản chỉ là “cách” làm thơ, Đêm chảy lên trời bộc lộ kí hiệu mới: thị giác hoá cảm giác hiện sinh – một cuộc giao hoan lặng lẽ đầy khao khát mà cũng đầy bất lực giữa sự cảm hiểu của con người với sự phong nhiêu thâm ẩn của cõi bao la.

  1. Thông điệp thơ – tư tưởng hay phi tư tưởng?

Thơ Ly tạo ra một logic khác thường, ít chia sẻ với logic tâm lý và tỉnh cảm nói chung, đó là logic về tiếng “nói ròng” của tâm linh và cảm giác. Nó không đợi làm ra một thông điệp, nó không tạo ra thông điệp cụ thể “có ý nghĩa” (meaning), mà nó chỉ lùa đám chữ có nghĩa (sense) ra giấy để các nghĩa được bay nhảy. “Đám chữ có nghĩa” đó là thứ lúa non, còn hấp mùi sữa của sáng tạo, còn tươi nhiên. “Nghĩa bay nhảy” mới gần với “nghĩa” của nghệ thuật.

Tôi nhốt tôi trong bọc đen

Cả thế giới không thể nhìn thấy tôi

Tìm cảm giác khi hơi thở đứt mà không ai biết

Bọc đen đầy hơi thở căng cứng

Khi vỡ tung sẽ thoát ra mùi gì?

Tôi nhốt tôi trong bọc trắng

Cả thế giới nhìn thấy đường gân tôi trên gương mặt

Tìm cảm giác được thương hại khi chết

Bọc trắng đầy mồ hôi mờ

Khi vỡ tung sẽ thoát ra mùi gì?

Mưa rơi lên bọc trắng

Mưa rơi lên bọc đen

Có gì khác?

Suỵt

Im lặng!

Hãy bịt tai nghe

Hãy bịt mũi ngửi

Hãy nhắm mắt nhìn

Rất khác!

(Hành xác và thử nghiệm)

Khả năng kết nối những cái đứt đoạn làm nên một chỉnh thể sống, đó là lời lẽ của nghệ thuật trình diễn, đó là lời lẽ nằm trên sân khấu và ngoài đường phố, không chỉ nằm gọn trên trang giấy. Nói đúng hơn, trang sách/mặt phẳng trong thơ Ly trở thành không gian, còn không gian trong nghệ thuật thị giác thu gọn lại thành trang sách.

Khái niệm “tương tác”, vốn là thuật ngữ của nghệ thuật thị giác, có nhiều cơ hội trở thành . Người đọc không chỉ đọc, mà còn tương tác. Tương tác không chỉ tạo thêm nghĩa cho thơ, mà tạo thêm ý nghĩa cho bản thân người đọc – họ chứng nghiệm một phần cái mà họ thường đứng ngoài đọc vào.

Một đoạn trong bài Đứa bé gái trên biển được trình bày theo hình ảnh một chiếc bóng mong manh rơi xuống, cũng có dáng dấp một đứa bé ngây thơ với chùm tóc ngang:

Vẫy chào mặt trời trong bóng đổ của mặt trời     

     Đứa bé gái là biểu tượng đồng nhất của ánh sáng và bóng tối

                              của đêm

                                 ngày

                                bi quan

                                hy vọng

                                    yếu

                                    đuối

                                sức mạnh

                                  đơn độc

                               mênh mang

(Đứa bé gái trên biển, Quà)

Thật đáng ngạc nhiên khi tác giả chia sẻ rằng, cách trình bày trong cả ba tập thơ Cỏ trắng (1999), Lô lô (2005), Quà (2008) đều do một người bạn, độc giả đặc biệt thực hiện. Người thể hiện ba tập thơ, hoạ sĩ Hà Thế Hiển, cho rằng “không thể không tương tác” khi đọc thơ Ly. Chi tiết “ngoài lề” này chứng minh một khả năng mang đến những mỹ cảm thị giác cho người tiếp nhận mà bản thân Ly không thể “lường” hết. Sự tham dự bất ngờ của người đọc vào hành trình thơ Ly càng cho thấy rằng “tính tương tác” là yếu tính làm nên một kiểu thơ đương đại, một giống thơ cần đến sự sống, hà hơi của người đọc một cách thiết tha.

Dưới đây là một vài hình ảnh trình bày theo mô thức tương tác giữa tác giả và người đọc/ người trình bày bản thảo:

 

 

 

Những dấu vân tay màu đen ở mỗi trang trong tập Lô lô ám gợi một dấu vết vô hình của người đọc vô hình, như một ấn chứng về sự thật của tâm hồn, như một ám gợi của đêm đen. Bài Thở dài lại có hình dáng mái chùa, những tầng tầng lớp lớp sự cô tịch, dường như gợi nghĩ đến bóng chùa Một Cột thanh cao…

Thơ Ly hiển thị những xúc chạm thường nhật, những cảm giác tức thời nhưng đạt tới độ cô đọng nghệ thuật, đạt tới cá tính thuần thục. Ly không làm thơ để chiêm nghiệm. Thơ Ly là để chứng nghiệm cái thực sự đang xảy ra. Mỗi cơn ảo giác, mỗi sợi tơ ý tưởng, đều được ghi lại theo cách tự xoá. Và người đọc lại ghi tiếp điều anh ta nhìn thấy.

Trong tư thế ngồi xổm kỳ quặc

Ông ta bịt mắt mình bằng băng dính

Trong ánh sáng kỳ quặc của chiếc đèn pin mất kiểm soát âm cực

Ông ta bịt tai mình bằng hai chiếc ly giấy

Trong âm thanh rè rè kỳ quặc từ máy xi đi cũ rích

Ông ta đập trứng

Lòng trắng lây nhây lòng đỏ cháy rực ly thủy tinh cáu bẩn

Mặt trời vỡ khi ông ta nuốt lòng đỏ vào bụng

Tự dưng ông ta tỏa sáng

Hả hê nhìn vỏ trứng nát

Ngỡ mình được sinh ra lần thứ hai

Lăng xăng tặng hoa hồng cho mọi người

Nhưng ai nấy đã đi hết rồi

Ông ta tỏa sáng một mình

Trong ánh sáng kỳ quặc của chiếc đèn pin mất kiểm soát âm cực

(Performance Trứng)

Thơ Ly phá bỏ khung tư tưởngkhung cảm thán như một thứ phụ tùng nghiêm ngặt mà “truyền thống” viết và đọc trang bị cho chúng ta từ bao lâu (“truyền thống” ở đây hiểu là một kiểu thói quen tiếp nhận được cộng đồng chấp nhận trong một quãng thời gian dài). Tư tưởng mà chúng ta thường hiểu và dùng nó để đọc thơ là tư tưởng do ý chí và kinh nghiệm mang lại, nó nhất định phải có hình khối, lối mường tượng, sự cô đúc ngụ ngôn; nó có xu thế cô đặc lại và tạo thói quen tâm lý khi đọc. Điều này chẳng có gì sai, nhưng cũng không có nghĩa là không thể khác đi. Mà thường là phải khác đi, khác đi thì mới có lý cho sự chuyển động không ngừng.

Thơ Ly chống lại sự cô đặc tư tưởng và thói quen thưởng thức. Tư tưởng mà chúng ta đọc được ở Ly là tư tưởng có được từ một hiện thực đang chảy từng dòng vào thơ, đang chảy cả cát bụi và không khí ô nhiễm, đang chảy một sự cái nhìn bất an và khốn cùng âm thầm nào đó, đang chảy hết cả những u ám quằn quại hay sự hồn nhiên trong sáng đến … vô nghĩa lý. Đó là một thứ tư tưởng đang thổn thức, hoài thai; tư tưởng không muốn được/bị định danh. Nếu ai đó gọi thơ đương đại Việt Nam là “thơ dòng chảy” thì thơ Ly là một ví dụ không thể rõ hơn, không thể thuyết phục hơn, dù tác giả chưa hề tuyên bố, và chắc là không bao giờ tuyên bố. Tư tưởng đó luôn động, nó sợ và tìm cách thoát khỏi mọi cái chết, mọi xác chết của ý niệm; nó luôn ở thế “đang là”, “đang như vậy”. Bởi lẽ, “Khi giải thích đã là mất mát”:

(…)

Đêm đem đen vào em

Em đem đêm vào đen

Màu đen vẽ hình những cám dỗ tưởng tượng

Dậy mùi trong đêm

Mùi đen mùi đen mùi đen

Dậy mùi trong em

Mùi đêm mùi đêm mùi đêm

Dậy mùi giữa hai dấu ngoặc đơn

Khi giải thích đã là mất mát.

(Ngoặc đơn trong đêm)

Cũng có thể nói rằng, thơ Ly tồn tại một sự thông diễn kép, cái này thông diễn cho cái kia cùng một lúc.

Con bướm ma nhả mình trước mặt tôi

Anh xanh mặt

Điềm chẳng lành.

 

Tôi vẽ những người mặt xanh áo chàm xanh

Người âm phủ

Miệt mài cây cọ tung toé màu

Màu xanh nhuộm xanh con bướm ma (…)

 

Tôi vẽ người âm phủ

Gọi bướm ma về nhập nhằng trước mặt tôi

Mặt tôi đủ sắc màu

Rân ran sắc màu nhảy múa

Tôi nguệch ngoạc bôi lên đầy mặt tôi.

Bướm ma sợ

Bay đi

(Bướm ma)

Có một cảm giác rất đặc biệt dành cho người đọc, đó là việc “tự chú thích”. Hiểu thế nào về con Bướm ma? Thông điệp gì trong ý thơ “ma quái ” đó? Quá nhiều “nhân vật” xuất hiện, “tôi”, “anh”, “bướm ma”. Nhưng đừng vướng vào câu chuyện đó. Không có tôi, không có anh, không có bướm ma. Chỉ có một trận cầu độc đạo của màu sắc, anh và tôi và con bướm cũng chỉ là một trận cầu màu sắc của thế gian, ai biết được đâu là bóng ma thực. Chỉ có kẻ sáng tạo là biết. Thế thôi. Mọi thứ cùng đang thông diễn lẫn nhau. Tôi không tin điều ấy chỉ thuộc về kỹ thuật.

Còn bài thơ dưới đây được viết như là lời đề từ, lời giới thiệu liên văn bản cho một 5 cuộc trình diễn nghệ thuật đương đại nơi công cộng của Ly Hoàng Ly cùng bốn nghệ sĩ khác (Nguyễn Thủy Tiên, Đức Flying Bay, Patricia Nguyễn, Tuấn Mami) tại Hà Nội.

Có thể kiểm soát điểm khởi động

Không thể kiểm soát điểm đến

Bữa tiệc không thể có nếu vắng bóng người

Bữa tiệc có thể không có một bóng người

Thức ăn bầy ra cho ruồi

Hoặc không có thức ăn nên không có ruồi

Từ A đến B là một bữa tiệc mà điểm khởi động được kiểm soát

Điểm khởi động A, A’, A’’, A’’’, A’’’’, A’’’’’ và A nhiều phẩy hơn nữa không thể đếm bằng miệng trongmột đờingười

Điểm khởi động được nối kết với một điểm dừng chân khác

Chuông điểm 12 giờ trưa

Các điểm khởi động bắt đầu lăn và dừng chân tại cùng một điểm

Mốc là 6 giờ chiều

Đã định là phải gặp nhau

Mà biết có nhìn thấy nhau không

Điểm dừng chân đâu phải điểm đến

Nhìn thấy nhau theo dõi nhau đâu phải hiểu nhau đang làm cái quái gì

Không nhìn thấy nhau không theo dõi nhau

Để người khác nhìn tất cả chúng ta

Còn chúng ta cứ sống cứ lăn cứ live stream thôi

Bữa tiệc có thể chỉ tồn tại online

Thức ăn liệt kê trên chiếc bàn hiện hữu được bọn online ngửi

như thức ăn sắp lên bàn thờ cho người âm

lũ người âm đội mồ màn hình

online xà quần thế gian

(từ . tới . | from . to . Có (không) khởi đầu và (có) không kết thúc)

Bài thơ này gần như không thể hiểu nếu bị tách rời khỏi lý do diễn ngôn của nó. Nó được viết ra vì mục tiêu biểu lộ nghệ thuật đương đại đường phố, nó vay mượn ý nghĩa của nghệ thuật từ không gian để làm cuộc phiêu lưu của nghệ thuật thời gian. Thơ bị đặt vào tình thế rất nguy hiểm: chia sẻ thêm nghĩa cho loại nghệ thuật vốn đã rất kén chọn người thưởng thức (sắp đặt – installation và trình diễn – performance), và đến lượt nó, tự nó tạo thêm “nghĩa nghệ thuật” cho thơ. Thơ viết từ những sự kiện nghệ thuật, thơ được làm ra từ cảm hứng của những dự án nghệ thuật thị giác hay thơ cảm ứng về ký hiệu hội hoạ là minh chứng cho một “hệ sinh thái thơ” rất đặc thù của Ly Hoàng Ly.

***

Không phải là hình tướng của nghệ thuật thị giác trong thơ là điều hấp dẫn, mà là sự hài hoà, giao thoa các loại hình nghệ thuật trong tư duy sáng tác ngôn ngữ thơ. Sự hài hoà, giao thoa ấy có thể là ngẫu nhiên ở một vài trường hợp, nhưng cũng có thể là qui luật bên trong của con đường vươn tới sự liễu ngộ nghệ thuật. Ly Hoàng Ly và sự nghiệp nghệ thuật thị giác của chị có thể được biết đến nhiều hơn thơ, có giá trị quốc tế rộng rãi hơn thơ, nhưng không thể phủ nhận sự đột phá của thơ Ly trong phối cảnh của sân chơi nghệ thuật thị giác nói chung cũng như sự kiến tạo “vô tình” một lối đi mới cho ngôn ngữ Việt đương đại của một nghệ sĩ làm thơ.

Con đường đi ấy của thơ Ly đang “dọn sẵn” một nẻo ra thế giới: thơ ca không chỉ là câu chuyện của ngôn ngữ; nó khởi đi từ ngôn ngữ, được hiểu qua ngôn ngữ. Nhưng, ngôn ngữ không phải là điểm đến cuối cùng của thơ; nó làm trung gian cho nhiều thứ nghệ thuật khác cùng được lên tiếng. Bằng những bài thơ của mình, Ly dường như đã cung cấp một loại ngôn ngữ thơ mà các biên độ nghĩa, các ranh giới của kí hiệu, các lối mòn của biểu tượng đều đồng loạt xô đẩy nhau cho một trật tự mới, nơi ngôn ngữ có thể kết dính với các kí hiệu nghệ thuật khác và tự làm cho nó trở thành một sinh thế đa diện, lấp lánh, mời gọi nhiều hơn, để trống nhiều hơn, nơi tác giả “vong hoá” nhiều hơn đến độ … mất tích trong các thông điệp. Đó cũng là điều mà Chế Lan Viên ướm lời từ nửa thế kỉ trước “giờ thử để Thơ làm”.

Khi “Thơ tự làm” thì nó “gây sự” dai dẳng với ngôn ngữ và bắt ngôn ngữ phải mở ra những “khả nghĩa”, những chiều kích “sở thị” và “sở biểu” phong phú, đập toang những cánh cửa quen của tiếp nhận, đẩy người đọc vào vị thế một sinh mệnh thưởng thức, nghĩa là người đọc cũng có những chuyến lưu đày riêng trong hành trình cảm nghiệm thơ, trải nghiệm chất liệu tạo ra thơ. Họ cũng không thể yên ổn. Họ không chỉ đọc, họ còn được “âm thầm đề nghị” làm một người tham dự vào một tác phẩm trình diễn hay sắp đặt mơ hồ nào đó, họ đóng thêm vai của người đọc màu sắc, đọc đường nét, đọc cái vô biên của những bức tranh câm lặng…ở cùng một thời khắc đọc thơ qua lớp áo ngôn ngữ. Hãy “hành xác và thử nghiệm” – đó là lời mời mọc tinh tế và gãy gọn của Ly vào thơ; và (hy vọng rằng) cũng là một uyển ngữ cho mỹ học tiếp nhận đương đại.

 

  1. Lê Thị Thanh Tâm

Đại học Quốc gia Hà Nội

(Tham luận hội thảo Ngôn ngữ học Quốc tế lần thứ III do Viện Ngôn ngữ học tổ chức vào tháng 4-2017)

 

 

 

 

 

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 

  1. Huỳnh Phan Anh: Thơ – trình diễn hay phơi mở. Nguồn: http://nguyentrongtao.info/2011/10/09/thơ-trinh-diễn-hay-phơi-mở/ (ngày truy cập 5-8-2014)
  2. Nguyễn Việt Chiến, Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 – 2005), Nxb Hội Nhà văn- Công ty Văn hoá trí tuệ Việt, Hà Nội, 2007.
  3. Có (không) khởi đầu và (có) không kết thúc. Nguồn: http://tiasang.com.vn/-van-hoa/co-khong-khoi-dau-va-co-khong-ket-thuc-8928 (truy cập ngày 22-2-2017)
  4. Trần Dần thơ, Nxb Đà Nẵng, 2008
  5. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010.
  6. Đặng Đình Hưng, Bến lạ, Nxb Văn nghệ, 1990
  7. Hoàng Hưng, Hành trình, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2005.
  8. Hoàng Hưng, Đọc và trình diễn thơ ở Việt Nam hiện nay, Văn nghệ, 25-10-2007.
  9. Dương Bảo Linh, Đêm trong thơ Ly Hoàng Ly dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận.

Nguồn: http://duongbaolinh3010.blogspot.jp/2015/09/em-trong-tho-ly-hoang-ly-duoi-goc-o.html (truy cập ngày 8-3-2017)

  1. Ly Hoàng Ly, Cỏ trắng, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999.
  2. Ly Hoàng Ly, Lô Lô, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005.
  3. Ly Hoàng Ly, Quà, Nxb Trẻ, 2008.
  4. Ly Hoàng Ly, Bồ câu thủ thỉ. Nguồn: http://soi.com.vn/?p=147666 (truy cập ngày 22-2-2017)
  5. http://soi.today/?p=183335 (truy cập ngày 22-2-2017)
  6. Modern and contemporary artists. Nguồn: http://the-artists.org (truy cập ngày 18-2-2017)
  7. Nguyễn Thanh Nguyệt, Có chăng sự tiến bộ trong nghệ thuật? (suy nghĩ từ thực hành nghệ thuật của Ly Hoàng Ly). Nguồn: https://hieutn1979.wordpress.com/2015/12/28/co-chang-su-tien-bo-trong-nghe-thuat-suy-nghi-tu-thuc-hanh-nghe-thuat-cua-ly-hoang-ly/ (truy cập ngày 18-2-2017)
  8. Thu Nhi, Nghệ sĩ thị giác Ly Hoàng Ly: hành trình đi tìm cái đẹp.

Nguồn:http://bazaarvietnam.vn/chan-dung-people/people-news/nghe-sy-thi-giac-ly-hoang-ly-hanh-trinh-di-tim-cai-dep/ (truy cập ngày 21-2-2017)

  1. The World’s Top Contemporary Artists. Nguồn: http://www.visual-arts-cork.com/contemporary-artists-top-20.htm (truy cập ngày 20-2-2017)
  2. Lưu Khánh Thơ, Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại. Nguồn: http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-tre/360-do-x/2049-cach-tan-nghe-thuat-va-tho-tre-duong-dai.html (truy cập ngày 20-2-2017)
  3. Trang thơ Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương, số 287 (T.01-13)
  4. Toạ đàm trực tuyến Bóng dáng nàng Thơ trong cuộc sống hiện đại. Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/bong-dang-nang-tho-trong-cuoc-song-hien-dai-59548.html (truy cập ngày 20-2-2017)
  5. Hà Thanh Vân thực hiện, Một góc nhìn thơ đương đại Việt Nam, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tháng 11-2008.
  6. Xin chữ cho chữ, Nguồn: http://soi.today/?p=181679 (truy cập ngày 22-2-2017)

 

[1] Trang thơ Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương, số 287 (T.01-13)

[2] Trang thơ Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương, số 287 (T.01-13)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s