Hoàng Hưng dưới ngòi bút Nguyễn Việt Chiến

Bài chân dung văn học về nhà thơ Hoàng Hưng trong tập sách 1.100 trang “Thơ Việt Nam tìm tòi & cách tân 1975-2015” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến (NXB Hội Nhà văn) được trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2016.

nvc

Nhà thơ Hoàng Hưng, sinh năm 1942 ở Hưng Yên, năm 1965 đoạt giải cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn VN. Từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ trước, nhà thơ Hoàng Hưng đã bước đầu có những tìm tòi khác thường và mới lạ về mặt hình thức nghệ thuật thơ.

Trong 35 năm, ông đã in 4 tập thơ: Đất nắng (in chung 1970 NXB Văn học), Ngựa biển (1988 NXB Trẻ), Người đi tìm mặt (1994 NXB Văn hoá Thông tin), Và tập thơ Hành trình (2005 NXB Hội Nhà văn) đã được trao Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội.
Hai tập thơ Ngựa biểnNgười đi tìm mặt của Hoàng Hưng khi trình làng đã có nhiều dư luận trái chiều nhau và trở thành đề tài bút chiến của một số cây bút phê bình với những bình luận khen – chê khá gay gắt. Trước cuộc đòn “hội chợ” này, Hoàng Hưng tỏ ra bản lĩnh và khá bình thản trước “búa rìu” của phê bình đã có đôi lúc muốn “truy chụp” ông. Vì thật ra, cuộc đời thơ ca của Hoàng Hưng đã khiến ông phải nếm trải những bước thăng trầm  nghiệt ngã hơn nhiều cái thứ búa rìu chữ nghĩa kia. Hai tập thơ nói trên của Hoàng Hưng in ra ở thời điểm đất nước vừa bước vào đổi mới như tín hiệu đầu tiên dự báo cho các dòng thơ tìm tòi, cách tân nghệ thuật sắp nối tiếp nhau trình hiện.

Hình như, trong mỗi con người thơ cách tân đều ẩn chứa một trạng thái làm việc ngôn ngữ không bình thường và khác người theo kiểu bị “ngộ chữ”, bị “bùng nổ”, bị “tẩu hoả nhập ma” nên các bài thơ cách tân thường có một vẻ “điên điên” nào đấy về mặt phát hiện những dị âm, dị hình khiến người đọc không sao theo kịp được những liên tưởng thơ trong một bức tranh kiểu trường phái ấn tượng của họ. Nhưng một nhà cách tân như Hoàng Hưng, khi viết về những người điên, thơ ông lại tỉnh táo lạ thường và nhân ái hết mực. Tôi đặc biệt ấn tượng về 2 bài thơ: Người điên 1 (người điên hiền lành) và Người điên 2 (người điên gạch ngói) của Hoàng Hưng trong tập thơ Người đi tìm mặt. Trong bài thơ đầu, hình ảnh của một người điên hiền lành thật tội nghiệp và dễ thương khi đi qua thành phố, đi qua tuổi thơ của tác giả:

 

Anh cứ đi chầm chậm giữa đường

Cái mặt không tuổi

Tấm thân không thời tiết

Hai mắt để ngỏ một căn phòng trống không

 

Anh cứ đi nghìn bước như nhau

Quên ngay từng bước vừa đi

Không biết chỗ bàn chân đặt tới

 

Anh cứ vừa đi vừa bấm đốt

Và chỉ đếm đến một

 

Thủa nhỏ chúng tôi cười chạy sau lưng anh

Lớn lên bóng anh tắt những cơn vui

Và an ủi những giờ thất vọng

 

Rồi anh trở thành người quen thuộc

Một hôm tôi bắt gặp tôi

                    lẩm bẩm giữa đông người.

 

Sự bất ngờ đến trong khổ thơ cuối, khi chợt một hôm, nhà thơ thấy mình có cử chỉ khác thường giống như một người điên, nhưng may sao, đấy là một người điên hiền lành thích đùa rỡn với bọn trẻ con và chỉ quen đếm đến một. Nhưng bài thơ không dừng lại ở câu kết, khi cái lằn ranh mỏng manh giữa một người điên và một người bình thường đã khiến ta liên hệ đến một bi kịch đời sống đã bao trùm toàn bộ không khí bài thơ khiến người điên và nhà thơ trở thành người quen thuộc, họ giống nhau ở chỗ hay lẩm bẩm những nơi đông người. Đến khi ấy, ta mới lắng nghe được, cảm thông được, hiểu thấu được cái thứ ngôn ngữ lẩm bẩm của một người điên chính là sự mong muốn được truyện trò, được đối thoại với cái đám đông bình thường đang cố tình hắt hủi và xa lánh họ, điều mà chỉ có nhà thơ mới đồng cảm được. Còn trong bài thơ Người điên gạch ngói, chính nhà thơ lại là người được vỗ về bởi khúc ca thanh bình của một người điên đang hát lên khi đi qua cái thành phố điêu tàn vì chiến tranh:

 

Đội một viên gạch vỡ

Chị vừa đi vừa hát ca

Chiều tắt dần cuối phố

 

Chị vừa đi vừa ca

Những mảnh vụn của bài ca thanh bình

Lạo xạo tim tôi

 

Ôi nỗi điên gạch ngói

Cứ hát lên hát lên

Có bao nhiêu nát tan

Đội lên đầu mà hát.

Không những chỉ nổi tiếng về thơ, Hoàng Hưng còn là một dịch giả thơ khá uy tín với không ít các bản dịch tuyệt vời trong các tập: 100 bài thơ tình thế giới (1987), Thơ Federico Garcia Lorca (1988), Thơ Pasetenak (dịch cùng Nguyễn Đức Dương.1988), Thơ Apollinaire (1997), Các nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XX  (2002), 15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX (2004). Theo tôi, Hoàng Hưng là một trong số ít những nhà thơ Việt Nam tài hoa và khá uyên bác, đã vượt qua được ngưỡng cửa của thế kỷ XX để đối thoại với thế kỷ mới. Và có một điều khá kỳ lạ, sau 2 tập thơ Ngựa biểnNgười đi tìm mặt với những phát hiện, tìm tòi chữ nghĩa theo kiểu “hướng ngoại” gây xôn xao dư luận thì chỉ ít năm sau, cùng với các chuyến “xuất ngoại” đến với các nền thi ca hiện đại khác trên thế giới như: Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản…ta lại gặp một Hoàng Hưng “hướng nội” tìm về với bản lĩnh Phương Đông vững chãi mà độc đáo theo cách bài thơ Nghe quạ kêu ở Calcutta dưới đây:

 

Người phu xe ngồi khâu áo

Chiếc áo rách từ thủa chưa có cội bồ đề

Giữa tiếng quạ kêu

Người phu xe chăm chú đường kim mũi chỉ

Quên mất mình đang đợi khách

 

Quạ kêu quạ kêu lẫn dàn kèn xe bus inh ỏi

Hai viên Xá Lợi lấp lánh trong nhà bảo tàng

Thần Ta Ra vặn mình theo nhịp vũ trụ

 

Quạ kêu  quạ kêu ở Calcutta

Người bán trà sữa mang họ Barua vốn dòng Thích Ca

Dòng Thích Ca bị người đời truy sát

Người bán trà sữa xếp bằng rót một vòng trà

cho bọn du khách hiếu kỳ

Món trà sữa từ thời Đức Phật

 

Quạ kêu quạ kêu lẫn tiếng rùng rùng

 những toa xe điện vừa chạy vừa long ra

Hai bên hè phố

Nguời chờ việc ngồi bẻ ngón tay trong nắng

Lòng đường mấp mô đen bóng

những viên gạch trăm năm

 

Quạ kêu quạ kêu trưa nắng

Chạy túa ra

Bày taxi-bọ cánh cứng màu vàng

Cả thành phố người xe lúc nhúc

Hăng nồng hương liệu nghìn năm

 

Xa lắc rồi

Cõi buồn vui hờn giận của chúng mình

Cõi lo toan vặt vãnh của chúng mình

Anh cầm tay em

Buông mình vào cõi khác

Giữa tiếng quạ kêu ở Calcutta.

 

Đúng ra, bài thơ trên là một bức tranh về thời hiện đại, khi quá khứ và tương lai như hai đối cực đang dần hiện lên trong hình ảnh người phu xe ngồi khâu áo bên đường kiên trì, nhẫn nại như người bán món trà sữa từ thời Đức Phật cho những du khách hiếu kỳ trong cái thành phố Calcutta lúc nhúc người xe và hăng nồng hương liệu nghìn năm. Xuyên suốt bức tranh này là tiếng quạ kêu đến oi ả, đến bức bối làm chúng ta rối bời vì một cảm giác bất an đang thao thức đâu đó trong đời sống con người hiện đại khi cảnh lam lũ, khó nhọc trên mặt đất này vẫn luôn thường trực ở khắp mọi nơi. Hoàng Hưng đã vẽ bởi cảm xúc thơ thường trực trong con người ông chính là cái tố chất nhân văn luôn tràn đầy, luôn hướng tới và phải trình hiện bằng ngôn ngữ thơ này. Hoàng Hưng cũng đã vẽ và chấm phá chỉ bằng đôi nét thầm lặng ở bức tranh sau:

 

Cố đợi ngày trời trong

Có thể ngắm rặng tuyết sơn

Xa ngoài trăm cây số

 

Chờ hết một mùa

Trời mờ mịt sương

 

Đường lên núi súng nổ

Xe cháy

 

Sáng nay đôi chim hạc bay về

Mang trên cánh

Tuyết núi xa.

 

Hình ảnh Tuyết Sơn trong bài thơ trên lặng mà động, yên mà bất yên, tưởng chừng không thấy mà lại thấy, tuởng như không chảy mà lại chảy, ngỡ như hư ảo giá lạnh mà lại hiện thực nóng bức. Cái hình ảnh đột ngột sớm nay, đôi chim hạc bay về từ núi xa, hình như không phải chúng mang tuyết trên núi về mà trên đôi cánh hạc ấy còn có cả dấu vết của máu nữa, bởi trước đó đường lên núi súng đã nổ và xe đã cháy. Cách chấm phá của Hoàng Hưng trong bức tranh này đã vượt qua được cái không khí của tranh thuỷ mặc xưa, nó gần với đời sống đương đại nhưng cũng rất gần với Phương Đông. Phải chăng đấy là một hướng đi mới của thơ hiện đại, khi Hoàng Hưng sau gần 40 năm trăn trở cùng thi ca với các khuynh hướng tìm tòi khác nhau đang hành trình tìm về miền cội nguồn của thi ca phương Đông?.

Sự hoá thân của thơ vào sắc thái ngôn ngữ và hình ảnh riêng của mỗi nền văn hoá đã nhiều lần được Hoàng Hưng coi trọng đặt lên hàng đầu khi ông tới viếng thăm những miền đất khác hoặc khi ông viết về con người và đất nước ấy. Hoàng Hưng đã tìm được nhịp điệu đặc trưng của Lorca trong bài thơ sau:

 

Những đồi ô liu chạy trong trăng bạc

Góc tối toa tầu con tim tôi đập

 

Lorca

 

Đồng mênh mông rực cháy và nứt toác

Đâu rồi kỵ sĩ Cocrdoba?

Chỉ một bóng cao bồi Fa West

Giữa phim trường bao la

 

Lorca

 

Nhịp chân dồn dập di-gan

Trên sàn diễn giả trang hang đá

Trán nàng giọt giọt mồ hôi

 

Biển tháng chín mình tôi

Địa Trung Hải sang chạy về tít tắp

 

Lorca

Đêm bập bùng ghi ta Granada

Bom nổ sớm mai quảng trường tan tác.

 

Có cảm tưởng những hình ảnh huyền ảo, rung động của thi pháp Lorca đã làm nên sự hấp dẫn của bài thơ trên, Hoàng Hưng đã nắm bắt được nhịp điệu ấy và ông nhập cuộc vào một “bản nháp” theo kiểu của Lorca với dấu ấn sáng tạo của riêng mình.

(Nguyễn Việt Chiến-Thơ Việt Nam tìm tòi&cách tân 1975-2015)

 

THƠ HOÀNG HƯNG

 

SÔNG HẰNG

Mặt trời lên sông Hằng
Còn lại bóng đêm xác con trâu mộng
Những giàn thiêu nổi lửa ven bờ
Ánh bình minh trên vòm đá cổ

Tràn xuống sông bầy người ngũ sắc
Xin nước sông rửa sạch tội tình
Lão du – già đầy mình tro tử thi vừa nguội
Ướp xác phàm bằng hương liệu sắc – không

Sông Hằng sông Hằng cho tôi một giọt nước thiêng
Một giọt thôi
Giọt nào tẩy hết ưu phiền
Sông Hằng sông Hằng cho tôi chết

giữa dòng để tái sinh làm nhà thơ
hay thiền sư lang bạt

Mặt trời lên
Loé cười hàm răng anh bán cá
Suốt buổi sáng anh nhẫn nại đeo bám du thuyền
Để bán cho bằng được một giỏ cá tươi

Nụ cười sông Hằng
Trên mình con cá em phóng sinh
Trên chiếc nhẫn ngón tay em đuổi theo làn cá
Nụ cười sông Hằng
Triệu triệu năm sông nhẫn nại chở Hi Mã Lạp Sơn về xuôi
Nước sông đỏ tươi
Bao giờ mòn hết núi…

 

CHÓ RỪNG

Suốt đêm nghe chó rừng hú quanh đồng cỏ

Chúng vừa hú vừa chạy nhanh như gió

 

Có khi rỡn đùa như trẻ chạy chơi

Bọn trẻ Tây Tạng không biết mình sinh ra

 trên đất khách quê người

Có khi than khóc như trẻ đói ăn

Những đứa trẻ trong làng Nepal mắt đen viền sâu hoắm

Có khi tiếng tù và tiếng niệm chú rền rĩ

trong Đại Tháp Hoa Sen

Làm bè trầm cho hợp ca chó rừng lanh lảnh

 

Suốt đêm thao thức hồ nghi

Tiếng chó rừng có thật không có thật?

Tiếng vô minh

Hú lên lừa mị trên đường ta đi tìm sự thật?

 

Gần sáng khoác áo ra rừng

Bắt chước tiếng hú gọi chó về

Bỗng mắt mắt mắt mắt

Chi chít mắt xanh

Nhìn ta trong bóng đêm

 

Im lìm.

 

 

AMERICA

 

I.

Gửi Paul Hoover

 

Ga bay Lax xám xịt

Gã an ninh không cao lớn như tôi tưởng

Hành lý tôi không bị mở vì anh hải quan da đen

thích tìm hiểu sử Việt Nam

Toát mồ hôi tìm lối chuyển đường bay

Bỗng sững sờ hoa đào bừng mặt phố

 

Cầu Cổng Vàng ngang trời đỏ chót

Nhà thơ hiền và cao như cây xích tùng

 

Tỉnh dậy một mình giữa căn phòng kính

Nằm xem chim mổ hạt trong vườn

Đàn vịt trời bơi tung tăng hồ nhà

Sao nhớ quá tuổi thơ không trở lại

Đêm lạc lối quanh co chân núi tối

Chợt rằm trăng trên vịnh San Fran

 

Đâu nhà chọc trời quay cuồng đèn màu đâu bê tông sắt thép

Chỉ thiên nhiên bí mật vĩnh hằng

Bóng nai ngẩn sau cành lá

Rừng tùng ngàn năm đổ, mọc im lìm.

 

 

 

II.

Tưởng nhớ Lorca và Ginsberg

 

Những hành lang siêu thực dài vô tận dẫn đến những con số hiểm hóc giữ vận mệnh thế giới

Những uy quyền ngạo nghễ chín tầng mây phút chốc thành hốc huyệt thăm thẳm

Cao ốc chịu tang cột nhà mồ đen dựng nỗi đau thấu trời

Những toán da màu chiu chít rừng buiding sáng trắng

Những họa sĩ nghèo thắp ngọn đèn cày bôi máu súc vật lên tấm toan rách giữa ngôi nhà hoang cách Phố 5 phồn hoa mười năm phút đường ngầm

Ly rượu tequila bốc nhịp rumba ấm lòng khách lạ đêm Brooklyn lạnh ngắt.

Giữa toán loạn cuộc vui người Đen trên bến tàu Hudson tầm tã

Nhớ tiếng thét Lorca đêm ác mộng ma đè

 

Và Allen Ginsberg! Tôi đi tìm ông đây!

Time Square của ông là ngã tư đường chen chúc

khách thập phương

Tôi cắn ngang cái hot dog một đô lặng ngắm người Mễ da chì người Hoa da nghệ lao nhao trên khắp lề đường

Căn hộ của ông ở East Village đã bị cho thuê một nửa làm câu lạc bộ vớ vẩn gì đó

Trong khi bảy sắc cầu vồng tung bay giữa khu phố gay và chân dung bạn ông Jack Kerouac

Nhoẻn cười trên đường phố Frisco

 

Manhattan trong mưa

Rặng cao ốc nhấp nhô

nhập nhòa

nhấp nháy

Như đảo kỳ bí như núi ma trơi

Chờ đón những hồn tàu đắm

Giữa phố Wall vắng ngắt như họng con quái vật khổng lồ

Nghe tiếng chân mình bước

Ngoài cửa sông Hudson nàng Tự Do đứng cô đơn le lói đuốc giữa sương mù

Trăm con tàu lượn đến chào nàng nhưng không đến gần nàng được

Tự Do! Tự Do! Một đời khao khát phút này nàng vẫn xa cách

 

America America

Những xa lộ dọc ngang vun vút 18 bánh xe của ngươi

 cả mặt đất chịu

Những đèn đuốc sáng trưng ngày đêm của ngươi

cả bầu trời chịu

Những đại học mênh mông của ngươi cả tuổi thanh xuân được

Những bãi cỏ xanh rười rượi có thể nằm lăn bất cứ lúc nào của ngươi cả thế giới được

Bệnh béo phì của ngươi cả giống người chịu

Bạo lực tivi của ngươi cả tương lai chịu

Ngươi thiên đường hay địa ngục ác quỷ hay thiên thần

Những câu hỏi nghìn năm đang tìm lời giải đáp trong hàng trăm mê cung trí tuệ

Trong khi Hollywood chế tác giấc mộng ngày với tốc độ

mỗi ngày một giấc

Vẫn không làm chùn chân kẻ đứng trên cầu

nhìn dòng nước cuốn

Những gian hàng dăng dăng thế giới ảo hay là đời thực

Cho lạc đường những kẻ không may

 

III.

Gửi Nguyễn Đỗ

 

“Ta là ai trên xứ sở này?

Vì sao ta tới đây? Ta tìm gì? Ta muốn gì?”

 

Hương nếp mới nghẹn ngào người xa xứ

Trưa Cali thơ Nguyễn Trãi lặng người

 

“Đất hứa” phục những đòn bầm tím

Chết không xong thì phải sống thôi

 

Những câu thơ

Một mình đọc một mình tan nát

 

Nhưng bốn quả cam Vinh thoát hải quan

về nằm lay lắt xó buồng

Tự lúc nào anh đã quen vị ngọt cam Mỹ không hạt

Như anh phải làm quen giọng Mỹ

Tập phân biệt âm “of” với âm “off”

 

“Để dịch thơ Việt ra tiếng Mỹ”

Hình dung ngày trở lại

Vênh mặt với làng thơ ao tù

 

Nhưng trước khi ngày ấy tới

Thì anh sẽ quên và sẽ quen

Rồi anh sẽ tập làm thơ tiếng Mỹ

Để thêm một mối hận không được thừa nhận

Rồi con anh sẽ làm thơ tiếng Mỹ

Thành nhà thơ Mỹ gốc Việt

Còn anh một lần nữa dở hơi

Ngay trong nhà mình

 

Thế đấy Đỗ ơi

Chạy đâu cho thoát.


 

 

 

CÁI CHẾT

Gửi M.

 

Không sợ chết mà sợ phút giây tổng kết cuộc đời

Đã bao lần ta thử hình dung phút ấy

 

Mẹ tôi cứ thế ngủ quên

Sau trận cười ròn rã buổi trưa

Nhẹ tênh kết thúc

Bảy mươi năm không bận tâm hai chữ lỗi lầm

 

Cha tôi không dậy nữa

Tối hôm trước người còn nằm nghe

Con cháu bàn ngày mừng thọ.

Chín mươi năm trầm ngâm trải nghiệm

Huy hoàng và thất chí, gắng sức và buông xuôi

Bắc cân lên đời buồn hơn vui

 

Bạn tôi vật vã ra đi

Cơn hôn mê nhân tạo không át nổi tiếng đau

Bốn năm kiên cường sống cái chết được báo trước

Một nắm da bọc xương

Còn quầy quật khi thay áo liệm

Không cam chịu cái chết vô lý

Miệng còn giữ khuôn hình tiếng kêu

Dương vật không nằm xuống

 

Còn tôi sẽ chết cách nào đây?

Chết mòn chết mỏi

Trước màn hình tivi

Chết dần mỗi sáng trong bài múa tham sinh tập thể?

Chết nghìn lần trong mắt em?

Không. Cái chết ấy tôi không chịu nổi

 

Tôi ước mình chết trong một chuyến đi

Máy bay rơi

Biển cả là mồ

Không tang ma rườm rà

Không băn khoăn ai khóc ai tiễn ai cười ai vờ che mặt

 

Dưới đáy biển sâu

Tôi chờ một nhánh hoa nước mắt

Của riêng mình em thôi.

 

3/9/2003

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s