VỀ CHƯƠNG TRÌNH & SGK (KỲ 4): THẤY GÌ TỪ HÀN QUỐC?

CẢM ƠN GS ĐỖ NGỌC THỐNG, NGƯỜI ĐƯỢC BGD CỬ NGHIÊN CỨU SÂU VỀ GD HÀN QUỐC ĐÃ CUNG CẤP NHỮNG TƯ LIỆU = TIẾNG ANH, GIÚP TÔI CÓ STT NÀY. CHẮC GS ĐÃ BÁO CÁO VỚI “TRÊN” VỀ KINH NGHIỆM ĐẠI HÀN, MỘT XỨ NHIỀU NÉT GIỐNG VN, VÀ VN HÌNH NHƯ CŨNG MUỐN HỌC TẬP. NHƯNG TÔI CỨ XIN CHIA SẺ VÀI Ý VỚI CÁC BẠN FB ĐỂ CHÚNG TA “GÁI GOÁ LO VIỆC TRIỀU ĐÌNH”, HIHI…

korvia-image-header-secrets-classroom-management

 

  1. VÀI NÉT VỀ GD PHỔ THÔNG HÀN QUỐC

 

  • Năm 2011, cả nước có 5.852 trường Tiểu học (cấp 1) với trên 3.132.000 HS. 3.153 trường Trung học Cơ sở (cấp 2) với 1.910.572 HS, 2.282 trường TH PT (cấp 3) với 1.943.798 HS. Tổng số GV là 422.364, trong đó 180.623 cấp 1, 110.658 cấp 2, 131.083 cấp 3.
  • Chế độ GD bắt buộc được thi hành với cấp 1 và lớp đầu cấp 2 (lớp 7).
  • Bộ chịu trách nhiệm về GD là Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ (MEST)

 

  1. SGK

 

SGK được phân 3 loại: Thuộc bản quyền nhà nước (bắt buộc), được NN cho phép, được NN chuẩn thuận.

 

  • Loại 1: Toàn bộ các SGK lớp 1 và 2; SGK 5 môn Tiếng Hàn, KH Xã hội, GD Đạo đức, Toán và Khoa học từ lớp 3-6.
  • Loại 2: SGK lớp 3- 6 về 5 môn Tiếng Anh, Nhạc, Hoạ, Thể dục, Công nghệ và Việc nhà. SGK cấp 2 về 4 môn tiếng Hàn, Sử, GD Đạo đức, KHXH.
  • Loại 3: Tất cả SGK từ lớp 7 – 12, trừ 4 môn Tiếng Hàn, Sử, GD Đạo đức, KHXH.

 

Các trường được chọn mỗi môn 1 sách loại 2 hoặc loại 3 thích hợp cho HS của mình trong số nhiều sách đa dạng trên thị trường.

 

 

 

  • CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH ĐANG THỰC HIỆN

 

Mặc dù được đánh giá là nền GD có hạng trên thế giới, nhưng để đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại (TK 21), Hàn Quốc đang thực hiện cuộc cải cách GD lớn:

 

  • Tôn chỉ: “GD VÌ SÁNG TẠO VÀ NHÂN BẢN”, gia tăng tính tự trị của các vùng và các trường học, giảm tải cho HS, đưa vào một hệ thống xếp hạng dựa vào các tiêu chuẩn cần đạt được hơn là dựa vào cạnh tranh, nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa các HS (có thể hiểu như, thí dụ: không cho điểm, chỉ đánh giá HS theo tiêu chuẩn cần phải đạt)

 

  • Vì vậy, CT cải cách tập trung vào trau giồi óc sáng tạo, xây dựng nhân cách và làm cho việc học ở trường vui vẻ hơn. Muốn như thế, CT phải dựa vào HS và lấy HS làm trung tâm.

 

  • Tính tự trị của các trường học tính đến sự khác biệt giữa trường công/ trường tư, thành phố/nông thôn, cho phép thực hiện CT tuỳ theo môi trường GD cụ thể. Các trường có thể tự soạn CT riêng, nhằm giảm tải cho HS trong khi phát triển những kỹ năng thực hành và nâng cao năng lực của HS.

 

 

  • HS cấp 3 được tăng thêm quyền chọn lựa môn học. Không có môn học bắt buộc định trước trong CT, do đó CT được gọi là “CT chọn lựa môn học”. Các trường học và HS có thể tự do chọn những môn học hợp với sở thích và hướng nghiệp của mình.

 

Mấy phương châm cải cách:

 

1/ Dựa vào phát triển năng lực: như các năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự học, kỹ năng hợp tác trong việc học, kỹ năng điều chỉnh tình cảm cá nhân.

2/ Thường xuyên cập nhật và chỉnh lý CT cho phù hợp với những đòi hỏi của thực tế xã hội và sự phát triển của kiến thức.

3/ Uyển chuyển và đa dạng hoá việc tham dự soạn thảo CT. Ba cấp, trung ương, địa phương, và trường học cần có vai trò của mình và hợp tác nhau để mở rộng cơ hội lựa chọn, nhằm nâng cao phẩm chất của CT.

4/ Nâng cao tính tự trị của trường học: các trường học cần được cấp cho “tính tự trị về căn bản”, để đưa CT học vào theo một cách độc lập, thích hơp với các điều kiện địa phương, tình thế xã hội, và nhu cầu của HS và PHHS.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s