THƠ & LỜI CẢM TẠ


Đầu năm, nhân nhà thơ Hoàng Hưng ký tặng [khoe] tập thơ Ác Mộng in song ngữ Việt Anh ở Mỹ (đính kèm gặp mặt cùng anh chị em và vợ chồng nhà thơ Tung Nguyen Nguyễn Đức Tùng từ Canada về), xin đăng lại bài cũ như là cách cảm tạ.
Bài phê bình nằm trong loạt “Hồ Sơ Biên bản So sánh” gồm 19 bài đăng ở Vanviet.org và Inrasara.com tháng 11-2015, và đoạt giải của VanViet cùng năm.
Inrasara.

Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 10
THƠ [TRONG, NGOÀI & SAU] TÙ CỦA VIỆT NAM

Xuyên suốt thế kỉ XX, Việt Nam là đất nước của tù tội. Tù và tội. Tù thực dân, tù Cộng sản, tù Quốc gia, và cả tù Hòa bình. Muôn hình vạn trạng qua vô số nguyên do với bạt ngàn phận người, trong đó có không ít người làm thơ.
Nổi tiếng nhất phải kể đến Hồ Chí Minh với Nhật kí trong tù (1960) và Nguyễn Chí Thiện với Hoa địa ngục (1980) của ông. Nhìn chung, hầu hết nhà thơ sử dụng thơ ca như phương tiện lột tả cuộc sống trong tù để tố cáo chế độ ngục tù (Nguyễn Chí Thiện), hay dùng thơ bày tỏ chí khí (Hồ Chí Minh): “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”, hoặc như Tố Hữu: nói lên lòng căm thù, còn nếu có nhắc đến nỗi cô đơn: “Cô đơn thay là cảnh thân tù!” thì cô đơn ấy luôn vững niềm tin vào ngày mai tươi sáng: “Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin”.
Nghĩa là, ở cõi ấy, hiếm có bài thơ nảy sinh ở “ngoại vi” nhà tù, hay hơn nữa – sau khi thi sĩ ra khỏi nhà tù. Ở đó, “Đi về” của Tô Thùy Yên và “Người về” của Hoàng Hưng xuất hiện như ca lạ biệt, vô cùng độc đáo trong lịch sử thơ [tù] tiếng Việt.

(…)
“Lơ láo tù về lạc thế kỉ”, bởi tù tội hay tù oan, không biết. Người trong cuộc cũng không biết đàng để giải thích, để minh oan. Từ “cõi ấy” mơ hồ và xa lạ trở về nơi chốn cùng khuôn mặt thân thuộc xưa, nhưng tất cả làm lạc lõng và xa lạ. Một thứ xa lạ đầy bất an. Mấy ám ảnh từ “cõi ấy” như loài đỉa vô hình không dứt ra được. Ám vào giấc ngủ đầy ác mộng, đột ngột xuất hiện giữa cuộc vui, trong chốn đông người hay những lúc cô độc. Bất an từ ánh nhìn tò mò, từ cái vỗ vai có thể thân mật, sang tận bất an đến từ thứ cơ chế bất định: “Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi”. Đó không phải là thứ bất an siêu hình của triết thuyết hiện sinh, mà là bất an của đời thực nảy sinh từ đời thực. Khi ẩn khi hiện không thể nắm bắt.
Ở “cõi ấy” bấp bênh, bất trắc với bất an đã đành, rồi sau khi thoát khỏi “cõi ấy” 7 năm tưởng mọi sự đã chìm vào vùng mờ của kí ức, nhưng không. Hắn sẽ mãi mãi làm sinh linh ngoài lề cuộc đời, kẻ tâm thần phân liệt, hay tên tội phạm – biết đâu! 
Làm sao “người về từ cõi ấy” có thể hòa nhập vào cuộc sống đời thường, khi mọi nguyên do của nỗi bất an kia chưa được dứt tiệt? Là câu hỏi lớn gợi ra từ phần vô ngôn của “Người về”, điều chỉ có thơ mới có thể làm được.

[đọc cả bài Ở ĐÂY http://inrasara.com/…/ho-so-bien-ban-so-sanh-bai-10-tho-tr…/ – Photo Kim Cúc Ngô Thị]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s