Các tác giả Khoa Học Tạp Chí (Hà Nội 1931-1940)

Hà Dương Tường

Khác với Khoa học Tập chí của Bùi Quang Chiêu, KHTC không có tên ban biên tập. Ngoài ông Nguyễn Công Tiễu (cũng có bút hiệu Minh Nông) làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và cũng là một cây bút chính của tạp chí, các bài khác phần đông được ký bằng bút hiệu, việc tìm lại tiểu sử và hoạt động của các tác giả – lớp người Việt thứ hai viết báo khoa học, sau các tác giả của Khoa học Tập chí thập niên trước – là một công việc còn để ngỏ mà người viết bài này không có điều kiện thực hiện. Dưới đây, chỉ xin kể sơ vài tác giả:

bia_so9

1/ Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, được toà soạn mời trả lời (số 3) vấn đề được nêu trong số trước, “tại sao đàn bà đẻ lại uống nước tiểu ?”. Ông cũng trở lại chuyện này trong bài “Lại bàn về vấn đề dùng nước tiểu tiện làm thuốc hậu sản” (số 6) để đối thoại với hai tác giả khác. Ông cũng đóng góp một số bài khác như “bệnh dịch tả” (số 24), “bệnh trở của trẻ em (số 41), “bệnh tê thấp” (số 102), v.v.

Nghe tên quen, tôi tìm trên mạng thì thấy đúng là có một bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, sinh năm 1898, tốt nghiệp Y khoa Đại học Đông Dương rồi sang Pháp làm luận án bác sĩ và trở về nước năm 1928, tác giả cuốn sách “Sản dục chỉ nam” (hướng dẫn cách chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh), tham gia Việt Minh vào thời kỳ tiền khởi nghĩa 1945, và được bầu vào Quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH năm 1946, nhưng cuối năm đó, ông hy sinh khi Pháp đánh Hà Nội.

Có thể có hai bác sĩ Nguyễn Văn Luyện hoạt động ở Hà Nội vào những năm 1930, cùng quan tâm tới vấn đề sinh nở của phụ nữ ? Xác suất có vẻ thấp, tuy nhiên có hai nghi vấn cần được nêu ra: một là địa chỉ không trùng hợp. Những quảng cáo phòng mạch của BS Nguyễn Văn Luyện trong KHTC từ mấy số đầu (1931) cho tới mấy số cuối (1940) đều ghi địa chỉ 8 phố Đường Thành (hoặc 8 rue de la Citadelle), trong khi đó, hồi ức của ông Vũ Đình Hoè, bộ trưởng bộ Tư pháp năm 46 (đăng lại trên Tuổi Trẻ 20.8.2015), chỉ cho biết hai địa chỉ: ngôi nhà 167 phố Phùng Hưng, Hà Nội, cũng là nhà thương Ngõ Trạm, và ngôi nhà riêng sau này là toà đại sứ Cuba (65 Lý Thường Kiệt), nơi cha con ông kiên quyết ở lại chiến đấu ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946) và bị quân Pháp xông vào hạ sát. Bài viết của hai nhà báo Nguyễn Xuân Hải và Tâm Hiếu trên tạp chí Khoa học và Tổ Quốc số 03/2007 cũng chỉ nói tới căn nhà 65 Lý Thường Kiệt). Bài này, cũng như một vài bài khác gần đây viết về Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện – đại biểu Quốc hội 1, không hề nhắc đến sự cộng tác của một bác sĩ Nguyễn Văn Luyện với KHTC. Đó là nghi vấn thứ hai về nhân vật này, và là một điều rất đáng tiếc nếu hai người là một – nhất là trên một Tạp chí về Khoa học. Còn như, nếu là hai người khác nhau, câu hỏi về thân nhân của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện – cộng tác viên của KHTC còn để ngỏ.

2/ Trần Công Tiến, người đã cùng Nguyễn Công Tiễu sáng chế ra cái “máy chạy bằng ánh sáng mặt giời, gọi là Turbine solaire Tiêu – Tiên” (được trình bày trong các số 15, 23), tác giả của nhiều bài viết về lịch sử khoa học (Kinh Dịch đối với Khoa học ngày nay như thế nào, Á đông có khoa học từ bao giờ, lịch sử khoa học Âu Mỹ…). Có thể nói ông là một cộng tác viên thân cận của Nguyễn Công Tiễu.

Trần Công Tiến là một tên khá phổ biến, chúng tôi không tìm thấy trên mạng một bài nào nói về ông. Người được biết nhất mang tên này là triết gia Trần Công Tiến ở Sài Gòn, với tác phẩm Hữu thể với thời gian nxb Quê hương, 1973), bản dịch của tác phẩm Sein und Zeit của triết gia Đức Martin Heidegger.

3/ Bác sĩ Hoàng Thuỵ Ba, một trong hai người bác sĩ đầu tiên ở bán đảo Đông Dương (cùng với bac sĩ Đặng Vũ Lạc), con Tổng đốc Bắc Giang Hoàng Thuỵ Chi và thân phụ của nhà thơ Hoàng Hưng. Ông có bài viết dài “Muỗi độc” đầy 5 trang, đăng trên hai số báo 9 và 10) chỉ rõ “Chứng sốt ngã nước không truyền bằng đờm rãi, phân, tiểu của người ốm mà cũng không truyền bằng ước uống, thức ăn, không khí, vân vân (những điều người Việt thời đó còn tin theo). Chỉ truyền bằng một giống muỗi riêng, gọi là giống Anophèle“, và đề ra những cách phòng, trừ con muỗi đó.

Sau Cách mạng tháng 8, ông được cử làm giám đốc đầu tiên của Sở Y tế Khu 11 (Hà Nội), rồi trong kháng chiến được giao việc thành lập và điều hành Trường Nữ hộ sinh trung cấp Liên khu III- IV, trường đào tạo nữ hộ sinh trung cấp duy nhất của ngành Y tế bấy giờ. với một chương trình sản khoa hoàn toàn bằng tiếng Việt do chính ông soạn và giảng dạy.

“Năm 1952, bác sĩ Hoàng Thụy Ba được tin bà cụ thân sinh bị bệnh, liệt nửa người ở Hà Nội không người chăm sóc. Ông báo cáo với tổ chức: xin được vào Thành chăm sóc mẹ, hứa sẽ không làm gì cho địch. Đồng chí Khuất Duy Tiến, Bí thư Thành ủy lúc ấy đồng ý để ông vào Hà Nội. Quả nhiên, Tây mời làm việc, ông từ chối, chỉ mở bệnh viện tư tại nhà để sinh sống và chăm nom mẹ.” (các thông tin về tiểu sử trên được trích từ hồi ức “Lối sống người Hà Nội xưa qua ba thế hệ một gia đình trí thức” của nhà thơ Hoàng Hưng, và báo mạng “An ninh thế giới” ngày 17.2.2007).

Ngoài các bác sĩ Nguyễn Văn Luyện và Hoàng Thuỵ Ba, giới y dược có mặt trong KHTC còn những người như bác sĩ thú y Phan Văn Huyến (thanh tra thú y tỉnh Nam Định), y sĩ Lê Văn Phấn và một số thầy thuốc Đông y).

bố
Cu HTB khi moi tot nghiep Bac si Y khoa o Paris

4/ Thế Thuỵ Đinh Gia Trinh, tác giả loạt bài “Lược khảo về lịch sử khoa học” đăng nhiều kỳ (các số 51, 61, 62, 63, 65, 66, 67, 69). Hầu hết những tên tuổi các nhà khoa học lớn được điểm qua với tóm lược những đóng góp có ý nghĩa của họ: sau những Archimède, Platon thời cổ đại đến Copernic, Kepler, Galilée, Tycho Brahé thời Phục Hưng, rồi Descartes, Pascal, Bacon thế kỷ 17, rồi Gay-Lussac, Linné, Lamark, Buffon thế kỷ 18… trước khi sang thời đaị “toàn thịnh” của thế kỷ 19… Bài kết thúc bằng lời kêu gọi: “Nói cho thật ra thì cái mà ta gọi là khoa học chỉ là khoa học Thái tây mà thôi (…) Vậy ta còn đợi tới bao giờ mới góp một vai vào xây nền khoa học thế giới, bao giờ ta mới khỏi thờ ơ với khoa học, bao giờ ta mới khỏi ngộ nhận rằng chỉ có văn chương mới có thể làm rạng vẻ một người thiếu niên Nam Việt.” Ông cũng ký tên chân dung nhà sinh học Pháp Buffon trong mục “Đài kỷ niệm” (số 34), một trong những bài hay trong mục này.

Nhưng Đinh Gia Trinh (1915-1974) thật ra được biết hơn sau này, khi ông tốt nghiệp cử nhân Luật (năm 1941) bắt đầu hành nghề  Luật và tham gia nhóm Thanh Nghị, là một trong những cây bút chủ lực trên tờ tạp chí của nhóm. Theo bài viết của Nguyễn Ngọc Thiện trên tạp chí Phê bình Văn học ngày 1.2.2014, “Từ số đầu tiên (1941) đến những số cuối cùng (1945) trên tạp chí Thanh Nghị ông đã cho đăng ngót 100 bài, gồm : các tiểu luận, phê bình, khảo cứu, tùy bút…về các vấn đề xã hội , tư tưởng, giáo dục,đặc biệt là về văn chương nghệ thuật (ký tên các bút danh Đinh Gia Trinh, Diệu Anh, Thế Thuỵ…)“. Ông còn là tác giả của nhiều bài báo về luật học và công trình nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam, và là đại biểu Quốc hội khoá I của nước VNDCCH.

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã dành riêng một chương trong cuốn sách Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá (nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 2005) để viết về “Khuôn mặt tinh thần của một trí thức, tường hợp Đinh Gia Trinh” (bài đăng lại trên Víet-Studies), qua đó ông đánh giá rất cao những bài viết về văn chương nghệ thuật đắc sắc của tác giả này, đặc biệt là trong tập “tiểu luận có đường nét của một bài tổng kết Địa vị văn hoá Âu Tây trong văn hoá Việt Nam“.

Như vậy, Đinh Gia Trinh viết cho KHTC hồi còn là sinh viên, và sau đó (1940-1941, khi KHTC đã đình bản) chuyển hẳn sang lĩnh vực phê bình văn học.

5/ Vài tác giả có nhiều bài khác:

– Lê Văn Kim, với bài Khảo về dầu mỏ (số 47 và loạt bài Nguyên cớ phát minh sự vật của loài người (số 46 và nhiều số tiếp theo) cũng như một vài bài xã luận. Ông này trùng tên với một viên tướng lĩnh của VNCH, nhưng chắc chắn không phải vì tướng Lê Văn Kim sinh năm 1918, năm 1933 (thời điểm của bài Khảo về dầu mỏ) mới 15 tuổi.

Một trong những bài ký tên Lê Văn Kim có kèm theo mấy chữ IDEO, là tên viết tắt của Imprimerie d’Extrême-Orient, nhà in lớn nhất ở Đông Dương lúc đó, do hai anh em ông Schneider thành lập từ năm 1886.

– Thanh Đạo, với nhiều bài viết về Thiên văn học, Khoa học hiện đại, Khoa học giảng cứu;

– Mặc Kim nữ sĩ, với nhiều bài về Phụ nữ với khoa học, Khoa học và bình quyền (nam – nữ) ;

– Vị Hà, tác giả loạt bài Triết lý với Khoa học (số 8-13) và nhiều bài khác.

– Nguyễn Công Huân, con trưởng Nguyễn Công Tiễn, sau khi ra trường Nông lâm cũng có nhiều bài viết về các vấn đề nông nghiệp, như thân phụ ;

– Thạch Bân, cũng với nhiều bài tranh luận về khoa học với nam nữ bình quyền, và các bài về việc học, ở nhà trường hay trong giáo dục gia đình.

– Đào Đăng Hy, thuộc Viện Hải học Nha Trang, với ba bài giới thiệu Viện này (và một số bài khác liên quan tới đề tài thuỷ sản, như bài về Nước mắm trên số 50) ;

Ngoài Viện Hải học, vài cơ sở nghiên cứu khoa học khác được giới thiệu như Viện Khảo cứu khoa học Đông Dương, Thiên văn đài Phủ liễu, hay nhu cầu thành lập một Việt Nam Bác vật viện Muséum d’Histoire Naturelle d’Annam) mà chủ bút Nguyễn Công Tiễu đề ra (xã luận số 43).

HDT

Nguồn: https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/tap-chi-khoa-hoc-va-nha-khoa-hoc-nguyen-cong-tieu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s