DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ HOÀNG HƯNG & INRASARA

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

 

 

NGUYỄN THỊ MINH HUỆ

 

 

 

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI

TRONG THƠ HOÀNG HƯNG & INRASARA

 

 

 

 

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 34

 

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

 

 

 

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS. HOÀNG THỊ HUẾ

 

 

 

 

Huế, năm 2016

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI CAM ĐOAN

 

 

 

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.

 

Tác giả

 

 

Nguyễn Thị Minh Huệ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lời Cảm Ơn

 

 

 

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học,  quý thầy cô giáo Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Huế và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Hoàng Thị Huế – người đã tận tình hướng dẫn cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, tác giả bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tác giả hoàn thành luận văn này.

Huế, tháng 11 năm 2016

Tác giả

 

 

 

 

Nguyễn Thị Minh Huệ

 

 

 

 

 

  1. MỞ ĐẦU
  2. Lí do chọn đề tài

Chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) là trào lưu tư tưởng – văn hoá – triết học và nghệ thuật nổi lên ở phương Tây từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, phát triển rộng khắp và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nhân loại từ hai thập niên cuối của thế kỉ XX. Hậu hiện đại là một hệ hình tư duy mới thay thế cho hệ hình tư duy hiện đại cũ của chủ nghĩa hiện đại. Là một sự vận động mang tính tất yếu của lịch sử xã hội loài người.Văn học hậu hiện đại đã trở thành một trào lưu có mặt hầu khắp các nền văn học thế giới, không riêng gì ở châu Âu, châu Úc cho đến châu Mĩ Latin và cả châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc…Tuy nhiên, ở Việt Nam, chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng vẫn còn là một điều khá mới mẻ và có phần xa lạ.

Lí thuyết về “Hậu hiện đại” đi vào Việt Nam khá muộn nhưng việc tiếp  nhận ban đầu lại khá thụ động. Tinh thần hậu hiện đại được các nhà văn chuyển chở vào tác phẩm khá tích cực song vì những lí do chủ quan lẫn khách quan khiến việc tiếp nhận của đọc giả có phần khó khăn. Vấn đề đặt ra cho các nhà phê bình, dịch thuật là những người tiên phong nhằm trang bị cho người đọc những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa hậu hiện đại, giúp họ khám phá tác phẩm được thuận tiện hơn. Năm 1997, một bài dịch thuật có tên gọi “chủ nghĩa hậu hiên đại” của tác giả Lộc Phương Thủy được đăng trên tạp chí Văn học, số 5, đánh dấu sự khởi đầu quan trọng trong việc truyền bá lí thuyết này vào nước ta. Năm 2003, cuốn sách “Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX”, do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch; Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. Trong đó các khái niệm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng được giới thiệu rõ ràng, cụ thể góp phần tích cực trong việc nghiên cứu và phổ biến lí thuyết này cho đời sống văn học nước nhà. Những năm gần đây, thuật ngữ “ chủ nghĩa hậu hiện đại” hay “Hậu hiện đại” được xuất hiện nhiều hơn trong nhiều công trình nghiên cứu văn học nghệ thuật. Trong các cuộc hội thảo lớn đã và đang trở thành cầu nối cho bạn đọc làm quen với bức tranh văn học Hậu hiên đại thế giới, ở nhiều lĩnh vực khác nhau như phê bình, lí luận và trong thực tiễn sáng tác. Nhờ vậy, đội ngũ sáng tác cũng đã chuyển tải tinh thần hậu hiện đại vào tác phẩm theo những phong cách riêng. Tạo nên diện mạo đa màu sắc cho nền văn học nước nhà trên đà hội nhập. Với những gương mặt tiêu biểu như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thúy Hằng, Vi Thùy Linh, Hoàng Hưng, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hoàng Thế Linh, Jalau Anik, Inrasara, Hoàng Long Trường, Lam Hạnh…

Trong đội ngũ sáng tác mang tinh thần hậu hiện đại ấy, Hoàng Hưng và Inrasara là hai gương mặt nhà thơ đã để lại những ấn tượng với những đóng góp đáng kể. Mỗi người có một thế giới thơ riêng, phong cách sáng tác đặc trưng riêng nhưng ở họ ta thấy một điểm chung rất lớn. Đó là sự nỗ lực không ngừng và khát khao bứt phá vươn lên cái mới, tự làm mới chính bản thân mình trong tư duy sáng tác. Chính vì lẽ đó khiến chúng tôi muốn chọn đề tài “ Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara”. Với mong muốn đem lí thuyết hậu hiện đại soi chiếu vào những sáng tác của họ. Qua đó, so sánh những điểm chung và riêng trong phong cách sáng tác của hai nhà thơ này. Từ đó, đọc giả có thể hiểu sâu hơn về thơ Hoàng Hưng và Inrasara dưới góc nhìn tiếp nhận thơ ca hậu hiện đại. Góp phần làm phong phú bức tranh văn học Việt Nam đương đại.

  1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Cách tân luôn là vấn đề trăn trở đối với những người làm nghệ thuật. Chúng ta có thể thấy thơ Việt Nam từ sau 1986 đến nay, là một bức tranh đa màu sắc. Ở đó các thi sĩ không ngần ngại thử sức với cái mới  mong muốn tạo nên những luồng gió lạ cho nền thơ ca dân tộc trong thời kì toàn cầu. Hậu hiện đại khi vào Việt Nam đã được các thi sĩ vận dụng khéo léo với thực tế xã hội để tạo nên những dấu ấn mang đậm phong cách cá nhân. Khi thơ Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Hưng ra mắt công chúng, người ta thấy đúng là đã có một thời đại văn học mới xuất hiện.

2.2. Hoàng Hưng được biết đến như một điển hình của ý thức cách tân sâu sắc. Vượt lên những sóng gió của cuộc đời, ông vẫn mãi miết đi tìm cho mình một lối đi mới trong thơ. Tập “Ngựa biển”in năm 1988 đánh dấu một bước ngoặt trong hướng cách tân thơ ông. Hoàng Hưng là một người có tài và có tâm thật sự với nghề nghiệp. Nhưng số mệnh đã khiến ông gặp những bất trắc khó lường trong cuộc sống để rồi tạo cho hành trình thơ ông là những ngả rẽ. Song sau tất cả con đường thơ ấy vẫn là những tam giác đồng quy. Dù có đi đâu, vấp ngã đến tận cùng của sự thất bại thì với ông chiến thắng cuối cùng là vượt qua chính mình. Đỉnh của vinh quang lớn nhất vẫn là vinh quang của người nghệ sĩ dám sống hết mình cho thơ ca. Sự nghiệp sáng tác của Hoàng Hưng tính đến nay có hơn năm tập thơ. Hành trình ấy là quá trình gian nan thử lửa nhưng qua mỗi tập thơ, ông đều để lại những dấu ấn đẹp trong lòng bạn đọc. Thơ ông không chỉ nhận được sự quan tâm của giới văn nghệ sĩ, phê bình trong nước. Hoàng Hưng còn là hiện tượng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu ở nước ngoài. Do những điều khách quan lẫn chủ quan mà đến nay, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thơ ông chưa nhiều. Đa phần là những bài báo bình luận, nhận xét của giới chuyên môn trên các tạp chí văn hóa, văn nghệ, và các trang mạng xã hội khác. Ví như bài : “Hoàng Hưng đi tìm mặt” của Hoàng Cầm in trên báo Văn Nghệ 1994. Tác giả chủ yếu nhìn nhận nội dung thơ trong mối quan hệ với cuộc đời của Hoàng Hưng. Qua đó, lí giải những khía cạnh và biểu hiện của nó làm nên nét riêng của nhà thơ. Tác giả đã nhận xét ở phần cuối bài: “Hoàng Hưng đã đi đến một tính cách rõ rệt trong thơ. Nỗi quằn quại của đời anh, ngòi bút anh đang nói với chúng ta đôi điều mới lại về số phận con người”.[13] Năm 1994, tác giả Phong Lê  cũng có bài: “Văn học trong hành trình và con người”in trên Nxb Lao Động, người viết đã đưa ra những ý kiến và bình luận về sự đổi mới trong tư duy sáng tạo nghệ thuật của Hoàng Hưng ở tập thơ “Người đi tìm mặt”.Tác giả Phong Lê cho rằng nhà thơ đã từng chịu “Sự ám ảnh về một cái gì đó còn trong phía tối của cả một nội tâm và ngoại giới”.[31] Vấn đề đó được phản ánh rõ trong thơ của ông. Trong tác phẩm: “Đối thoại với văn chương”,Nxb Hội nhà văn, năm 1996. Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái lấy yếu tố hình ảnh, âm điệu từ góc nhìn siêu thực ở tập thơ “Người đi tìm mặt”để minh chứng cho sự tìm tòi, thể nghiệm cái mới trong thơ Hoàng Hưng và đã đưa ra nhận định rằng: “Sự tìm tòi thể nghiệm ấy tất yếu sẽ đẩy Hoàng Hưng tới những nấc thang cao hơn”[38]. Nguyễn Hữu Hồng Minh với bài “Vùng Hoàng Hưng”đăng trên trang Talawas, năm 2003. Tác giả đã có những lí giải khá sâu về thơ ông trên nhiều phương diện. Đặc biệt dưới góc nhìn phân tâm học người viết tỏ ra sắc sảo khi nói về vấn đề tính dục trong thơ Hoàng Hưng. Từ đó, tác giả đưa ra nhận xét: “Cách tân thơ không phải là học trở lại những phong cách đã chết. Là một tay sừng sỏ, Hoàng Hưng hoàn toàn nắm được các qui tắc của luật chơi đó. Trong tiến trình thơ hiện đại hôm nay vẫn thấy ông là một trong số ít ỏi những gương mặt nội lực thơ đi tiền phong”.[55]  Năm 2006, nhiều bài phê bình đánh giá toàn diện chuyên sâu về thơ ông cũng được ra mắt bạn đọc. Góp phần đưa đọc giả đến gần với thơ ông nhiều hơn. Năm 2008, bài: “Hành trình tinh thần của một nhà thơ”Tham luận tại hội thảo “Thơ Việt Nam đương đại”,Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, TP Hồ Chí Minh. Đây là một bài viết có giá trị trong việc đánh giá hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Hưng. Bài viết kết thúc bằng những lời đánh giá rất hay về ông:“Tận tụy và liều lĩnh, ông đã phó thác mình cho những chuyến đi vô tận của thơ ca và cuộc đời – những chuyến đi quá nhiều sóng gió rủi may, nhưng cũng không ít vàng ròng sáng tạo!”[66]

Thời gian sau này có bài viết của Lê Hồ Quang với tựa đề “Thơ Hoàng Hưng – Một vuông tường một thế giới”in trên tạp chí thơ năm 2012. Khái quát lại chặng đường sáng tạo thơ của Hoàng Hưng, lí giải những hệ thống biểu tượng phong phú và đặc sắc mang hơi thở của thơ ca hậu hiện đại. Tác giả cho rằng đó là một trong những nét nổi bật hấp dẫn người đọc đến với thơ ông, đồng thời đưa ra kết luận: “Có thể nói, với Hoàng Hưng, sáng tạo chính là hành trình đi tìm mặt mình. Đấy là hành trình tìm kiếm cái diện mạo đích thực của con người cá nhân. Nhìn rộng ra, đó cũng là hành trình tìm kiếm Thơ, tìm kiếm những giá trị Lý tưởng… Hiện diện trong thơ ông là một hệ thống biểu tượng phong phú. Đó là sự kết hợp nhuận nhị giữa tư duy lí tính và trực giác nhạy bén....”[36]Năm 2013, Inrasara và Thiếu Sơn cũng có những bài viết, phỏng vấn nhà thơ Hoàng Hưng trên các tạp chí và website như Tạp Chí Sông Hương, Talawas…giúp đọc giả đến gần hơn với thơ ông. Năm 2014, tác giả Đỗ Ngọc Quyên với bài: “Nhà thơ Hoàng Hưng và những vần thơ cháy lòng” đăng trên trang Văn học quê nhà, người viết đã giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc đời lắm thăng trầm của Hoàng Hưng. Đồng thời có những phân tích về thơ ông chịu ảnh hưởng và trưởng thành từ hoàn cảnh sống ấy như thế nào : “Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Hưng không chỉ đem lại cho đời những tác phẩm thơ độc đáo, có giá trị và đầy thi hứng sáng tạo, mà còn mang đến cho bạn thơ và những người hâm mộ những bài học quí về một bản lĩnh nghệ sĩ kiên gan trong lao khổ vẫn không ngừng thắp sáng ngọn lửa của lòng đam mê sáng tạo thi ca”.[56] Tác giả Paul. Hoover- chủ biên tạp chí New Amer writing cũng có nhiều bài viết bàn về thơ Hoàng Hưng như “ Người về và mùa mưa” hay bài M. Ngoài ra còn có một số bài khóa luận tốt nghiệp khác nghiên cứu về thế giới nghệ thuật thơ hay ngôn ngữ thơ Hoàng Hưng. Vì nhiều nguyên nhân nên đến nay chưa có thật nhiều công trình nghiên về thơ ông, đặc biệt là nghiên cứu sự cách tân theo hướng hậu hiện đại. Hy vọng, thời gian tới thơ Hoàng Hưng sẽ được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.

2.3. So với nhà thơ Hoàng Hưng, Inrasara là thế hệ đi sau. Ông nhập cuộc vào làng thơ Việt khá muộn song sự nhập cuộc này rất dứt khoát và mạnh mẽ. Là người con của nền văn hóa Chăm, thơ Inrasara trước hết mang hơi thở ngọn nguồn của dân tộc mình. Nhưng với tâm hồn nhạy bén, cá tính mạnh, ông nhanh chóng hòa mình vào dòng chảy thơ Việt đương đại. Một lối thơ phóng khoáng và không ngừng cách tân tìm tòi đổi mới. Thuở nhỏ, Irasara đã tỏ ra là người say mê với con chữ. Ông không ngừng đọc và khám phá thế giới nghệ thuật văn chương. Vì lẽ đó, khi lớn lên con người ấy có trong mình khối kiến thức rất sâu và rộng. Ông trở thành nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Chăm. Hiện nay ông không chỉ làm thơ mà còn là nhà nghiên cứu phê bình hậu hiện đại sắc sảo được giới văn nghệ vô cùng kính nể. Ông đã nhanh chóng có được một vị trí xứng đáng trong lòng bạn đọc và giới phê bình nghiên cứu. Chính vì thế, các công trình nghiên cứu và nhiều bài báo viết về thơ ông khá nhiều. Đầu tiên có thể kể đến đề tài “Thế giới nghệ thuật Thơ Inrasara”của Võ Thị Hạnh Thủy; luận văn thạc sĩ ngữ văn; ngành văn học Việt Nam hiện đại ;Viện văn học; 2008. Trong phần kết luận đã đưa ra nhận xét về nhà thơ này: “Inrasara đã và đang góp phần hoàn thiện con đường hiện đại hóa của văn học dân tộc, tiên phong cho văn học dân tộc bước sang một giai đoạn mới: Hậu hiện đại”.[43] đề tài nghiên cứu cấp trường “Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Inrasara”của Lê Thị Tuyết Lan và Nguyễn Thị Thu Hương; trường đại học KHXH & NV TPHCM; 2008. Hai tác giả đã giới thiệu một cách tổng quan về thơ ông trên bình diện nội dung và nghệ thuật. Từ đó giúp người đọc nhận thấy những thay đổi trong phong cách của ông qua những tập thơ: “Tháp nắng”(1996); “Sinh nhật cây xương rồng”( 1997); “Hành hương em”(1999); “Lễ tẩy trần tháng tư”( 2002); Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ tân hình thức(2006). Bước đầu giúp người đọc có một cách tiếp cận gần hơn về thơ Inrasara. Đồng thời đưa đến một cái nhìn khái quát về văn học nước nhà trên tiến trình phát triển và đổi mới. Tiếp theo đó, công trình nghiên cứu của Lê Thị Việt Hà; luận văn thạc sĩ, ngành lí luận văn học; Đại học Vinh; 2009 với đề tài “Hành Trình cách tân thơ của Inrasara”. Luận văn trình bày hành trình cách tân thơ của Inrasara từ hậu lãng mạn sang hậu hiện đại. khẳng định hành trình ấy là nỗ lực vượt lên chính mình của nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật. Tác giả luận văn đã đánh giá về hành trình thơ ông: “Hành trình thơ Inrasara là hành trình đến cái mới. Những ngày đầu trong Tháp nắng người đọc tinh ý còn dễ nhận mặt những nắng quái, sầu miên viễn, tàn tạ, buồn hải hồ qua Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức đến Ở nơi ấy [thơ thời cuộc] đã là những bước đi dài và có thể nói Inrasara đã thanh toán sòng phẳng với lãng mạn, nhảy sang bên kia bờ của hậu hiện đại.”Qua đó, luận văn khẳng định cách tân trong thơ Inrasara luôn gắn liền với truyền thống, phục vụ truyền thống và làm phong phú truyền thống thơ ca Việt Nam.[16]  Năm 2010, bài viết “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Inrasara” của tác giả Hoàng Thị Huế và Nguyễn Thị Thủy, đăng trên tập san của Sở giáo dục và đào tạo Thừa Thiên Huế. Bài viết đã có những kiến giải hay về ngôn ngữ thơ Inrasara, vừa thể hiện được những giá trị của ngôn ngữ Chăm đồng thời nhà thơ cũng có những cách tân hết sức táo bạo: “Thành công của Inrasara trong nghệ thuật biểu hiện, đặc biệt là ngôn ngữ thơ đã đưa nền văn hoá Chăm đến gần và hoà nhập với văn hoá Việt, đồng thời cũng góp phần đưa thơ ca Việt Nam nói chung hoà nhập với thơ ca thế giới”[20].“Inrasara từ quan niệm đến phong cách”, luận văn thạc sĩ khoa học của Trần Hoài Nam; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; năm 2010. Xem xét góc nhìn từ quan niệm của tác giả để từ đó định hình phong cách trong sáng tác thơ và cả sáng tác phê bình nghiên cứu của Inrasara. Phần kết luận, người thực hiện đề tài đã viết về ông như sau:“Hiện nay, Inrasara đã trở thành một đề tài nóng không chỉ thu hút giới nghiên cứu, giới truyền thông mà còn là mối quan tâm của những người sáng tác. Ở Inrasara, có sự đồng bộ giữa sáng tác và phê bình. Nghĩa là có rất nhiều điều để nói về ông nhưng trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi đã chỉ tập trung khảo sát từ quan niệm văn chương đến phong cách trong sáng tác và phê bình của Inrasara”.[67] Năm 2013, đề tài nghiên cứu theo chiều hướng mới của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung với đề tài “Tinh thần hậu hiện đại trog thơ Inrasara”;ngành lí luận văn học; Đại học KHXHNV- Đại học QGHN. Công trình đánh giá tiến trình sáng tác của Inrasara qua các tập thơ, khảo sát trên phương diện nội dung và nghệ thuật ở hai tập thơ “Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ tân hình thức”. Nhìn chung đề tài này mới chỉ làm nổi bật tinh thần đóng góp lí thuyết hậu hiện đại vào sáng tác của Inrasara, chưa khai thác sâu các yếu tố một cách toàn diện để giúp người đọc hiểu rõ dấu ấn hậu hiện đại trong thơ ông được thể hiện độc đáo và riêng biệt như thế nào. Qua đó, người nghiên cứu đã có đánh giá về nhà thơ này: “Inrasara là gương mặt nổi bật trong nền thơ ca đương đại Việt Nam. Ông là nhà thơ tài hoa, cá tính, luôn thể hiện nỗ lực đem cái mới vào nền văn học nước nhà”[15].Ngoài ra còn có một số đề tài khóa luận tốt nghiệp khác viết về nhà thơ Inrasara nhưng chủ yếu là khai thác ở các khía cạnh ngôn ngữ và văn hóa Chăm. Những bài báo và công trình nghiên cứu trên là minh chứng cho tinh thần lao động nghiêm túc vì nghệ thuật của nhà thơ này.

Có thể nói, sự nỗ lực cách tân của nhà thơ Hoàng Hưng và Inrasara đã ghi dấu những thành quả đáng kể trong nền thơ ca Việt đương đại. Một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên thành công đó chính là tư duy sáng tạo của cá nhân họ. Tác giả Hoàng Thị Huế trong bài viết: “Ánh xạ từ biểu tượng cái tôi trong thơ Việt đương đại”,Tạp chí khoa học Huế, số 5/ 2016 cũng đã đề cập đến vấn đề này: “Sau đổi mới, thơ ca đương đại đã có bước ngoặt lớn trong tư duy sáng tác, trong cái nhìn thế giới, con người, không gian, thời gian, chi phối sự lựa chọn phương thức trữ tình mới mẻ với một giọng điệu riêng và khác lạ, đặc biệt là sự góp mặt của các gương mặt thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… Trong xu hướng đổi mới chung, các nhà thơ đã tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của một cái tôi đa chiều kích, đầy kiêu hãnh và độc lập”.[22] Từ cái nhìn khách quan trên, khi soi chiếu vào thơ hậu hiện đại của Hoàng Hưng và Inrasara sẽ cho chúng tai thấy được nhiều sự thay đổi trong quá trình sáng tác của hai nhà thơ này.

Như vậy, nhìn chung các bài phê bình báo chí hay các công trình nghiên cứu về nhà thơ Hoàng Hưng và Inrasara, cho thấy rằng giới đọc giả cũng như giới phê bình nghiên cứu đã ghi nhận những cống hiến không hề nhỏ của hai ông cho nền thơ ca Việt Nam đương đại. Khẳng định những thành quả mà hai nhà thơ đạt được chính là những nỗ lực không mệt mỏi trong hành trình sáng tác của họ với mong muốn đem đến cho diên mạo thơ dân tộc những hương vị mới. Mặc dù đã có sự quan tâm nhiều như vậy nhưng để khám phá hết những giá trị tiềm ẩn trong thế giới thơ của hai thi sĩ này không hề đơn giản. Đặc biệt là vấn đề yếu tố hậu hiện đại trong thơ họ chưa được khai thác nhiều, một cách sâu sắc và toàn diện. Do vậy, với đề tài “Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara”, chúng tôi mong muốn đem đến cái nhìn mới có tính chuyên sâu. Qua đó, giúp người đọc có sự tiếp cận rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về vai trò của hai nhà thơ đối với nền thơ ca Việt Nam đương đại.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara. Chính vì vậy, luận văn tập trung khảo sát các tập thơ mang dấu ấn hậu hiện đại của hai tác giả này. Cụ thể, đối với Hoàng Hưng có các tập  Ngựa biển in năm 1988;  Người đi tìm mặt in năm 1994; Hành trình in năm 2005;. Thơ Inrasara, khảo sát chủ yếu ở tập  Chuyện bốn mươi năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức in năm 2006 và Ở nơi ấy [thơ thời cuộc])(2013)

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara”Luận văn tập trung khảo sát làm rõ những yếu tố hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara ở mặt nội dung và phương thức biểu hiện của nghệ thuật.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết tập trung vào những phương pháp chủ yếu sau:

– Phương pháp cấu trúc – hệ hống

Đặt tác phẩm trong hệ thống của khuynh hướng hậu hiện đại để nhận xét, đánh giá và khái quát hiện tượng.

– Phương pháp vận dụng lí thuyết hậu hiện đại, lí thuyết thi pháp học

Với đề tài này, chúng tôi vận dụng lí thuyết hậu hiện đại, lí thuyết thi pháp học soi chiếu vào tác phẩm để làm nổi bật yếu tố hậu hiện đại được thể hiện trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara.

– Phương pháp thống kê – phân loại

Dùng thống kê những bài thơ của Hoàng Hưng và Irasara đồng thời, phân loại chúng làm cơ sở cho sự so sánh đối chiếu những đặc điểm giống và khác nhau trong thơ hậu hiện đại của hai ông trong quá trình thực hiện đề tài.

– Phương pháp so sánh – đối chiếu

So sánh đồng đại để làm bật lên nét tương đồng cũng như khác biệt được biểu hiện trong nội dung và nghệ thuật trong thơ của Hoàng Hưng và Inrasara. Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số thao tác khác để khám phá triệt để các yếu tố hậu hiện đại trong tác phẩm của hai nhà thơ này.

  1. Đóng góp đề tài

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu chung về hai nhà thơ Hoàng Hưng và Inrasara, khai thác ở góc nhìn của lí thuyết hậu hiện đại. Qua đó, khẳng định tài năng, phong cách nghệ thuật cùng với lối viết tinh tế, độc đáo và mới mẽ của hai nhà thơ này. Luận văn sẽ là một tài liệu hữu ích cho việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu văn học ở phương diện hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại.

  1. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN và PHỤ LỤC, phần NỘI DUNG được chia thành ba chương:

Chương 1: Hoàng Hưng, Inrasara và ảnh hưởng của Chủ nghĩa hậu hiện đại đến thơ Việt Nam sau 1986

Chương 2: Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara nhìn từ bình diện cảm quan về thế giới và cái tôi trữ tình

Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara nhìn từ phương thức nghệ thuật

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

HOÀNG HƯNG, INRASARA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA

 HẬU HIỆN ĐẠI ĐẾN THƠ VIỆT NAM SAU 1986

 

1.1. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đến thơ Việt Nam sau năm 1986

1.1.1. Chủ nghĩa hậu hiện đại

Danh từ “postmoderne”(hậu hiện đại) hay “postmodernism” (chủ nghĩa hậu hiện đại) theo Ihab Hassan nó được Federico de Onis đưa vào văn bản lần đầu vào thập niên 1930 để chỉ sự ảnh hưởng đối kháng với chủ nghĩa hiện đại. Danh từ này được sử dụng một cách phổ biến vào thập niên 1960 tại New York. Sau này đã được xuất hiện trong cuộc tranh luận triết học năm 1979 ở phương Tây cùng với sự ra đời cuốn La condition postmoderne (Hoàn cảnh hậu hiện đại) của Jean-François Lyotard một triết gia Pháp. Nó đã thực sự trở thành một làn sóng có sức cộng hưởng và lan tỏa mạnh mẽ trên toàn thế giới. Lý thuyết này không giới hạn trong phạm vi triết học hay văn hóa, văn học nghệ thuật mà được áp dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.  Theo Lyotard, ông cho rằng: “chúng ta đang sống trong thời hậu hiện đại, thời mà tất cả những lý thuyết có từ thời Ánh sáng đều đã bị đổ vỡ”.[25]Bản chất hệ hình hậu hiện đại đó là khởi nguồn từ sự đổ vỡ của những thể chế quan liêu giáo điều, sự nổi giận của thiên nhiên chống lại sự cải tạo của con người, những cuộc chiến tranh giữa các nước trên thế giới, tệ phân biệt chủng tộc, sự mất bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo … cùng với sự phát minh ra lý thuyết hỗn độn, hình học fractal, những hệ phi tuyến… là những cơ sở sâu xa để tinh thần hậu hiện đại xuất hiện. Do đó, tinh thần hậu hiện đại sinh ra là để chống lại sự độc tài của các chủ thuyết mà ông gọi là các siêu văn bản (métarécit); nghĩa là không có một thứ nguyên lý phổ quát nào cho tất cả; chống lại quan niệm rằng “trật tự và ổn định là luôn luôn tốt và coi sự hỗn loạn, bất ổn là luôn luôn xấu”. Nhưng bản chất của xã hội là mọi sự thật vĩnh hằng sẽ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện của những hiện tượng không bản chất. Thời hậu hiện đại, con người đã nhận thấy được điều đó. Thế nên, đây là thời của sự lựa chọn không ngừng và gắn với hệ quả của sự bùng nổ thông tin. Thời đại nổi dậy chống sự bất bình đẳng giữa con người. Để chống lại siêu văn bản (chủ thuyết lớn), hậu hiện đại phát huy tính chất đa dạng, coi trọng vai trò cá nhân, các nhóm, coi trọng các lý thuyết nhỏ, những tiểu văn bản (petits récits). Những tiểu văn bản của hậu hiện đại thường có cách nhìn tạm thời, ngẫu nhiên, không khái quát tính thống nhất, tính ổn định, tính hợp lý hay sự thật khách quan. Trong đó tất cả mọi ý kiến đều có quyền hiện diện, cho phép sự bất đồng và nói sai (paralogie). Vấn đề này đã được các nhà khoa học hậu hiện đại nghiên cứu ứng dụng với đời sống hiện tại. Qua đó, có thể nhận định rằng chủ nghĩa hậu hiện đại đang minh chứng nhiều điều trái ngược so với những gì mà thời chủ nghĩa hiện đại đã đặt ra. Không dừng lại ở đó, chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ còn mở ra nhiều biến số mới trong đời sống xã hội loài người. Vì vậy, hậu hiện đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận động đó đang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ hình tư duy hiện đại đã không còn phù hợp. Từ đó, khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xem là một hệ thống lý  thuyết mở của thời kỳ hậu hiện đại. Những lí thuyết cơ bản về chủ nghĩa hậu hiện đại chủ yếu được hình thành ở Phương Tây nhưng sự phát triển thì khá phức tạp, xu hướng lan truyền của nó nhanh và rộng ở nhiều lục địa trên thế giới. Không chỉ ở các nước Tây Âu, Mỹ la tinh mà ở các trung tâm kinh tế lớn của châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Ân Độ, Hàn Quốc…điều đó cho thấy rằng chủ nghĩa hậu hiện đại đã không còn xa lạ với bất kì quốc gia nào có nền kinh tế và nền khoa học kĩ thuật phát triển.

Trong thực tế, các triết gia đã có rất nhiều lí thuyết thể hiện những quan niệm khác nhau về chủ nghĩa hậu hiện đại như Roland Barthes, Irving Howe, Ihab Hassan, Jane Jacobs, Michel Foucault,… J. Lyotard xem hậu hiện đại là sự đánh mất niềm tin vào các “đại tự sự”, là sự nỗ lực chống lại các “đại tự sự” (tức các lý thuyết phổ biến), (1979). Ihab Hassan coi chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn, mang tính phi lý tính, phi xác định, hỗn loạn, nhưng cũng mang tính nhập cuộc (1971).  Fredric Jameson cho rằng “sự tha hoá của chủ thể” trong chủ nghĩa hiện đại đã được thay thế bằng “sự phân mảnh của chủ thể”trong chủ nghĩa hậu hiện đại ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản muộn.

  1. Eco xem hậu hiện đại “là một phạm trù tinh thần, hoặc tốt hơn, một Kunstwollen – một phương thức thao tác” (1996). Baudrillard xem văn hoá hậu hiện đại là thế giới của những “vật ngụy tạo” (1995). Derrida – “ Giải trung tâm”. W. Fokkema “Kết thúc đại tự sự”. L. P.Evstigneva và R. Evstigneev quan niệm đặc trưng của xã hội hậu hiện đại là tính đối thoại, còn đặc trưng của xã hội công nghiệp hiện đại là độc thoại (2000). Lipovetsky cho rằng hậu hiện đại là “sự quay trở về với nguồn gốc của con người”. Michel Foucault xem hậu hiện đại là “Khảo cổ tri thức”… Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể các triết gia hậu hiện đại chủ trương làm mới những tư tưởng đã cũ của Friedrich Nietzsche, Carl Marx, Martin Heidegger, Sigmund Freud…đồng thời hòa tan chúng trong cái nhìn về văn hóa xã hội của mình.

   1.1.2. Văn học hậu hiện đại

               Nghệ thuật hậu hiện đại thể hiện quan điểm mỹ học hậu hiện đại với những đặc điểm như vứt bỏ tính hàn lâm của các nhà hiện đại, xóa nhòa ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống hằng ngày, bởi sự phát triển mạnh của tính công khai và dân chủ. Phủ nhận tính nguyên bản của một tác phẩm nghệ thuật và muốn hướng tới tính phổ quát, đại chúng. Phá bỏ cấu trúc, sự tiếp nhận hay mô tả hiện tượng không cần suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất sự vật theo chủ quan tác giả, giá trị nghệ thuật tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người tiếp nhận, tùy thuộc vào nền văn hóa mà họ sở thuộc,… Trái ngược với chủ nghĩa hiện đại muốn tạo lập một thế giới hoàn thiện, bất biến, thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại xem thực tại hỗn loạn, phi lý, giễu cợt những điều mang tính toàn trị. Họ muốn nghệ thuật gắn liền với hoàn cảnh xã hội đặc trưng cụ thể, mang tính thời sự. Đối thoại với hỗn loạn chính là chiến lược nghệ thuật của hậu hiện đại. Trong lĩnh vực nghệ thuật, đi tiên phong là các nhà kiến trúc sư. Họ phê bình lối kiến trúc đơn điệu thô cạch của các tòa nhà mang nặng tính thực dụng mà lại bỏ quên tính đa dạng. Do đó họ sẵn sàng cắt đứt với nghệ thuật tiền phong chấp nhận thử bất cứ điều gì như sự phi lý, sự hỗn loạn, sự ngớ ngẩn. Cái phản chất lượng được lên ngôi bởi sự khác thường, sự tự do và sự phá vỡ khuôn khổ.

Trong văn học, thuật ngữ “văn học hậu hiện đại” được xem là một trào lưu xuất phát từ phương Tây từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đạt đến đỉnh cao vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX. Khi nhắc đến văn học hậu hiện đại, ngoài ý nghĩa chỉ thời gian còn thể hiện những quy định của các thuộc tính nghệ thuật đối với nó. Phần lớn các ý kiến đều nhấn mạnh đến các đặc tính của văn học hậu hiện đại như tính phi lý tính (hoặc phản lý tính), tính phi xác định, phi chủ thể, tính phân mảnh và tính đại chúng. Văn học hậu hiện đại cũng đã sử dụng hàng loạt khái niệm, thuật ngữ mới trong cách viết, tạo nên những văn bản nghệ thuật chưa từng có trước đó cả về hình thức lẫn nội dung như: cảm quan hậu hiện đại, giễu nhại, mã kép, phi lựa chọn, giải nhân cách hoá, bất tín nhận thức, mặt nạ tác giả, ngoại biên, liên văn bản, siêu truyện,…và trong số đó nhiều cái được xem như thủ pháp nghệ thuật hậu hiện đại.

Một vấn đề nữa của văn học hậu hiện đại, đó là phải kể đến những gương mặt nổi tiếng trên thế giới đã thành công với lối viết này. Barry Lewis, trong Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chươngđã thống kê khá đầy đủ các tác giả nổi bật của văn học hậu hiện đại: “Văn chương hư cấu hậu hiện đại là một hiện tượng mang tính quốc tế, với những đại diện quan trọng từ khắp nơi trên thế giới: Gunter Grass và Peter Handke (Đức); Geogrges Perec và Monique Wittig (Pháp); Umberto Eco và Italo Canvino (Italy); Algela Cater và Salman Rushdie (Anh); Stanislaw Lem (Ba Lan); Milan Kundera (trước kia ở Tiệp); Mario Vargas Llosa (Peru); Gabriel Garcia Marquez (Colombia); J.M.Coetzee (Nam Phi); Peter Carey (Úc) . Trong đó, tổng số những nhà văn Mỹ có thể được liệt vào đề mục hậu hiện đại là một con số lớn”. [2, tr.237] Những tên tuổi được nêu ở trên là một minh chứng thuyết phục về sự ảnh hưởng mạnh mẽ của trào lưu văn học hậu hiện đại trên toàn thế giới. Một trào lưu văn học mới đã thu được những thành tựu lớn, do vậy sự ảnh hưởng của nó đến nền văn học Việt Nam là điều không tránh khỏi. Chưa thể nói rằng trong văn học Việt Nam đã xuất hiện các trường phái, khuynh hướng hay trào lưu hậu hiện đại như các nền văn học lớn trên thế giới. Tuy vậy, chúng ta vẫn tìm thấy những dấu hiệu và yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của một số cây bút tiêu biểu. Khi nhận xét về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học nước ta, tác giả Nguyễn Quốc Hưng (nguồn talawas.com) khẳng định: “Chúng ta có thể xem chủ nghĩa hậu hiện đại tại Việt Nam là một thứ chủ nghĩa hậu hiện đại nguyên hợp” tức là các nhà văn Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau để tạo nên màu sắc hậu hiện đại.

Như vậy, ở nước ta, khi bàn về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại, mặc dù còn có nhiều ý kiến tranh luận, song chúng ta có thể nhận định, văn học hậu hiện đại là một bước phát triển mới của văn học nhân loại. Với những phương thức thể hiện có nhiều sự biến đổi phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và thị hiếu thưởng thức nghệ thuật giàu tính trí tuệ của bạn đọc đương đại. Văn học Việt Nam không nằm ngoài vòng quỹ đạo ấy, mang ít nhiều màu sắc hậu hiện đại là một sự thú vị. Đây cũng là một mảnh đất đang tạo ra nguồn cảm hứng lớn để nhiều người yêu thích khám phá nó.

             1.2. Những thành tựu và sự tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại trong Thơ Việt Nam sau năm 1986

             Ở Việt Nam, chủ nghĩa hậu hiện đại đã có tác động nhiều đến sáng tác của các nhà văn. Sau đổi mới 1986, với tinh thần hội nhập và cởi mở, văn học nước ta đã có nhiều bước phát triển mới. Thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” hay “Hậu hiện đại” xuất hiện nhiều hơn trong nhiều công trình nghiên cứu văn học nghệ thuật. Trong các cuộc hội thảo lớn văn học Hậu hiên đại đã và đang trở thành mối quan tâm của bạn đọc, trên nhiều lĩnh vực, phê bình, lí luận và trong thực tiễn sáng tác. Đội ngũ sáng tác cũng đã chuyển tải tinh thần hậu hiện đại vào tác phẩm theo những phong cách riêng, tạo nên diện mạo đa màu sắc cho nền văn học nước nhà trên đà hội nhập. Với những gương mặt tiêu biểu như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thúy Hằng, Vi Thùy Linh, Hoàng Hưng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Jalau Anik, Inrasara, Hoàng Long Trường, Lam Hạnh… Hậu hiện đại trong những sáng tác hiện nay phần lớn biểu hiện ở cảm thức hậu hiện đại, ghi lại những dấu ấn vừa thể hiện tư duy cá nhân vừa mang tinh thần hội nhập quốc tế.

Văn học hậu hiện đại ở Việt Nam được phát triển trong hoàn cảnh chung với nền nghệ thuật hiện đại. Những điều kiện về “kiến trúc thượng tầng” cho văn học hậu hiện đại ra đời và vận động phát triển chưa thể đáp ứng tốt. Song sự tích cực của đội ngũ nghiên cứu lí luận, phê bình đã và đang mở đường cho quá trình tiếp nhận, ứng dụng lý thuyết văn học hậu hiện đại trong thực tiễn sáng tác, phê bình trở nên sôi động hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền văn học nước nhà.

Như vậy có thể nói rằng, để có được những thành tựu đó là nhờ sự vận động và biến đổi không ngừng của đời sống xã hội trong thời kì mới. Trong đó vấn đề quan trọng hàng đầu là sự đổi mới chính sách, đường lối của Đảng và nhà nước ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là sự mở đường quan trọng cho cả dân tộc. Trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, người nghệ sĩ được tự do thể hiện cái tôi cá nhân của mình, tự do bày tỏ những trăn trở, suy tư về thế sự. Văn học thời kì đổi mới với những thành tựu trong nghiên cứu lí luận, phê bình, dịch thuật đã góp phần đáng kể trong việc đổi mới văn học nước nhà. Các nghệ sĩ, bằng cảm quan nhạy bén của mình đã vận động và bắt mạch được với những cách tân của thời đại, đưa văn học nước nhà có bản đồng ca đa điệu đi vào guồng chung của văn chương thế giới.

Kể từ cuối thập niên 1980, đội ngũ những cây bút sáng tác mới mang tinh thần hậu hiện đại trở nên đa dạng hơn có thể kể đến như: Lê Đạt, Trần Dần, Thanh Thảo, Hoàng  Hưng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Việt, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà,…Lối viết của các nhà văn, nhà thơ này, đã cho thấy sự khác lạ với chính họ trước đó và cả với những nhà văn khác cùng thời, những người không bắt kịp với sự đổi mới văn chương của nhân loại. Những sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại đã tạo nên một bước ngoặt trong sự phát triển của văn học dân tộc. Nhưng có lẽ yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đã được manh nha từ những năm 70 của thế kỉ XX. Ở thể loại văn xuôi, Lê Huy Bắc trong bài: “Đôi điều về văn chương hậu hiện đại Việt Nam”, cho rằng Nguyễn Khải là người đi tiên phong đổi mới văn học nước ta theo khuynh hướng hậu hiện đại. Vấn đề đó được thể hiện trong việc chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời thường. Phản ánh hiện thực đời sống với những thân phận con người bé nhỏ trong Xung Đột (1959- 1962), Mùa Lạc (1960). Quá trình chuyển đổi này cũng được Nguyễn Khải thể hiện rõ ngay trong nhan đề truyện qua Thượng đế thì cười(2003). Sau này, khi những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh… ra đời, màu sắc hậu hiện đại được thể hiện đậm nét hơn trong nền văn học nước ta.

Từ thực tiễn của đời sống văn học ấy, đã có những tác động tích cực đến thơ sau 1986. Dấu ấn hậu hiện đại đã đi vào trong các sáng tác thơ của nhiều tác giả mới như Nguyễn Đăng Thường, Hoàng Hưng, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Tôn Hiệt, Vũ Thành Sơn, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Hoàng Tranh, Như Huy, Đặng Thân, Đinh Linh, Trần Wũ Khang, Inrasara, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thế Hoàng Linh,… Những cây bút này đã thể hiện sự nỗ lực không ngừng, khát khao bứt phá, mong muốn được làm mới mình. Có nhiều nhà thơ trong số đó đã chịu ảnh hưởng kỹ thuật viết hậu hiện đại. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội và tiếp nhận có chọn lọc các luồng tư tưởng từ nước ngoài, đời sống văn hóa xã hội nước ta theo đó thay đổi mạnh mẽ. Thực tế, nền thơ ca Việt Nam luôn vận động không ngừng. Thơ hậu hiện đại vì thế không thể thiếu trong tiến trình vận động ấy. Nó góp phần làm phong phú cho nền thơ ca nước nhà trong thời kì hội nhập toàn cầu. Theo Inrasara trong bài: “Hậu hiện đại và thơ hậu hiện đại: Một phác họa”, ông cho rằng: “Bùi Giáng là nhà thơ đầu tiên sáng tác theo cảm thức hậu hiện đại, hoặc gần như thế.” Irasara diễn giải cho ý kiến này và chứng minh thơ Bùi Giáng độc và lạ ở lối sử dụng ngôn từ “Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bùi Thy Sỹ điên chữ là vậy. Tất cả nói lên điều gì? Ngôn ngữ không thể khám phá ra cái gì cả! Và làm thơ như thể là một nhập cuộc vào trò đùa bất tận, trò đùa qua/trong/với sự bất lực đến tận cùng của ngôn ngữ. Ở đó, thi sĩ phó thác mình cho ngôn ngữ thao túng, dồi tung”[53].Cho nên thơ Bùi Giáng, là sự vượt mặt về ngôn ngữ và ý nghĩa của chúng. Điều đó đồng nghĩa với việc người tiếp nhận cũng có những cơ sở để đề xuất cách hiểu của mình. Từ Bùi Giáng, thơ hậu hiện đại Việt Nam bắt đầu có những bước đi đầu tiên. Đến giai đoạn sau này, xu hướng sáng tác theo tinh thần hậu hiện đại được ghi dấu trong nhiều sáng tác của các cây bút như  Lê Đạt, Trần Dần, Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Mai Văn Phấn … Công cuộc đổi mới năm 1986, tư duy cuộc sống thay đổi đã mở ra chân trời mới cho thơ ca. Tư tưởng tự do dân chủ giúp nhiều nhà thơ thể hiện cá tính của mình. Họ sống thật với cảm xúc và không ngần ngại nhìn thẳng vào đời sống trần trụi. Thơ hậu hiện đại Việt Nam là “thơ phản tỉnh mang tính phê phán hiện thực, thực tế đất nước và thực trạng văn chương”[51]. Theo ý kiến của Inrasara nhà thơ hậu hiện đại chối bỏ mọi dạng đại tự sự bằng cách hiệu quả nhất là giải thiêng sự thể. Giải thiêng để có cơ hội nhìn nhận thực tại bằng một cảm thức khác. Mang tư tưởng tự do, nhà thơ hậu hiện đại luôn có tiếng nói phản biện xã hội đương thời, bóc trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng muốn tác động vào xã hội. Đồng thời, thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa, xóa bỏ mọi sự phân biệt trong đội ngũ sáng tác. Do vậy, đội ngũ sáng tác thơ hậu hiện đại lúc này xuất hiện những gương mặt nữ có cá tính riêng mạnh mẽ như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Lê Thị Thấm Vân. Với những hình thức và phương tiện khác nhau, họ sáng tạo nên các phong cách, các bộ mặt, các  giọng điệu khác nhau. Xu hướng đổi mới thơ triệt để, từ hình thức cho đến nội dung theo hướng hậu hiện đại, đây là xu hướng hậu hiện đại toàn diện và “có ý thức”. Có thể kể đến một số cây bút trong xu hướng này như Khế Iêm, Trần Tuấn, Inrasara, Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Đặng Thân… đặc biệt là thơ Tân hình thức, thơ văn xuôi, kịch đường phố, thơ trình diễn…Tuy nhiên, những sáng tác của họ đa phần mới chỉ dừng lại ở mức những thể nghiệm ban đầu và chưa thực sự dấn thân vì nó. Hàng loạt những cách tân khiến cho bộ mặt thơ hậu hiện đại nói riêng và nền thơ ca đương đại Việt Nam nói chung càng thêm phong phú. Nhìn nhận một cách khách quan tinh thần hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đã thể hiện được cảm quan của thời đại với những phương thức biểu hiện đầy mới mẻ. Tuy nhiên, trong quá trình mãi mê đi tìm cái mới, một số cây bút sa đà, nhầm tưởng hậu hiện đại là phá cách là khác người nên họ sử dụng từ ngữ tục tĩu, nỗi loạn…mà không chú ý đến truyền thống văn hóa của dân tộc. Việc thúc đẩy tính hiện đại mới mẻ trong thơ không đơn thuần là chạy theo mốt thời thượng mà người nghệ sĩ phải biết chọn lọc, thể hiện đúng tinh thần của thời đại. Đảm bảo tính cá nhân nhưng đồng thời vẫn giữ được bản chất thuần khiết, chức năng thẩm mỹ của thơ ca.

Trong một thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, người nghệ sĩ sẽ có cơ hội lựa chọn nhiều cách để trình bày tư tưởng của mình. Từ đội ngũ sáng tác mới, nền văn học nước nhà có cơ hội quảng bá văn chương Việt ra nước ngoài. Vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó không chỉ tác động đến cách thế giới nhìn nhận bản sắc văn hoá Việt ra sao mà còn khơi dậy niềm tự hào về thành tựu văn học của dân tộc và nó gián tiếp thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ trong lĩnh vực du lịch – ngành được mệnh danh là “công nghiệp không khói”. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã khai thác hiệu quả những thành tựu văn chương trong quảng bá đất nước con người để thu hút khách du lịch, thậm chí là thu hút cả những nhà đầu tư nước ngoài. Điều đáng mừng là, trong công cuộc đổi mới này, tuy chúng ta đang đi sau thời đại nhưng không phải là một khoảng cách quá xa. Một phần lớn lợi thế đó là nhờ công lao tiếp nhận lý thuyết hậu hiện đại vào Việt Nam khá hiệu quả. Thách thức vẫn còn ở phía trước, bởi công cuộc hiện đại hóa lần thứ nhất đã để lại quá nhiều thành tựu (Thơ Mới, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực…). Đòi hỏi công cuộc đổi mới thời nay cần cố gắng rất nhiều để hoàn thiện nền văn chương dân tộc. Đúng như nhận định của Inrasara: “Nếu không tiếp nhận ngay từ hôm nay, tôi e rằng chúng ta tiếp tục chương trình làm kẻ trễ tàu thời đại” [51]. Mặc dù mang lại nhiều thành tựu, nhưng các tác phẩm thuộc xu hướng này mới chỉ dừng lại ở dạng mang “yếu tố”, “dấu ấn” hậu hiện đại, chứ chưa thể hoàn toàn xem đó là các sáng tác mang đầy đủ diện mạo và bản chất của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cũng chính bởi lý do này, nên mới có sự tranh luận, nghi ngờ diễn ra thường xuyên ở những năm qua trong giới phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam về việc phân định và xác định các tác phẩm, tác giả hậu hiện đại. Trong chỉ hơn hai mươi năm, vừa tiến hành tiếp thu lý thuyết, vừa triển khai ứng dụng vào sáng tác, lại phải vừa tiến hành việc tiếp thu và ứng dụng nhiều hệ hình lý thuyết văn học khác, có thể nói văn học theo xu hướng hậu hiện đại Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật, không thể không tính đến trong phê bình nghiên cứu văn học. Mặc dù vẫn còn nhiều tiếng nói e ngại, nhiều cái nhìn phiến diện, những sự rụt rè và hoài nghi về hệ hình lý thuyết văn học này, nhưng không thể phủ nhận rằng, những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, hậu hiện đại là một trong những tiêu ngữ mang lại nhiều nguồn cảm hứng và sự quan tâm nhất của cả giới sáng tác và nghiên cứu – phê bình văn học ở Việt Nam. Dù muốn hay không, nền văn học Việt Nam vẫn không thể chối từ cái khí quyển chung của thời đại, chính vì vậy, tuy còn nhiều bất cập, nhưng hậu hiện đại vẫn là giai đoạn phát triển mang tính tất yếu trong văn học nước nhà. Từ sự nhận thức đó, thơ Việt Nam trên hành trình dấn bước theo con đường hậu hiện đại, còn vấp phải nhiều chông gai. Đó là ý thức giữa việc bảo tồn bản sắc hay lai căng mất gốc, đổi mới triệt để hay kế thừa cơ bản. Vấn đề này phụ thuộc rất lớn vào người sáng tác, sự tương tác của đọc giả và cả giới phê bình nghiên cứu.

1.2.1. Hoàng Hưng – hành trình sáng tác và cách tân thơ

Nhà thơ Hoàng Hưng tên thật là Hoàng Thụy Hưng, sinh ngày 24/11/1942 tại thị xã Hưng Yên. Ông tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1965. Ông từng làm nhà giáo, phóng viên, biên tập viên Báo Người Giáo viên Nhân dân thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; nguyên Trưởng ban Văn hoá-Văn nghệ Báo Lao động; làm thơ, dịch sách.

Về sáng tác, ông đã xuất bản các tập thơ Đất nắng(in chung với Trang Nghị, 1970), Ngựa biển(1988), Người đi tìm mặt(1994), Hành trình(2005) và nhiều bài viết, bài nói chuyện, tiểu luận, nghiên cứu, trên báo, tạp chí, đài phát thanh trong và ngoài nước. Một số bài thơ đã được dịch và in tại Pháp, Mỹ, Canada, Đức, Hungary, Hà Lan…

Ông đã tham gia dịch và làm chủ biên 100 bài thơ tình thế giới (1988), Thơ Federico Garcia Lorca (1988), Thơ Pasternak (cùng dịch với Nguyễn Đức Dương, 1988), Thơ Apollinaire (1997), Các nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XX (2002), 15 nhà thơ Mỹ thế kỷ XX (cùng dịch, tổ chức bản thảo, 2004), Mowgli- Người sói (1988, 1989, 1999), Người đàn bà lạ lùng (1990), Từ điển Bách khoa Oxford cho thiếu niên (chủ biên, sắp ra mắt)…

Hoàng Hưng là một người có tấm lòng yêu nước và muốn cống hiến hết mình cho đất nước. Ông đã từng tình nguyện lên Tây Bắc tham gia phục vụ quân đội khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở thành nhà giáo. Trong vòng 08 năm (1965- 1973) ông được biết đến vừa với tư cách là một nhà giáo vừa là nhà thơ có tiếng nhất nhì ở cảng Hải Phòng. Sau này ông tình nguyện vào miền Nam phục vụ trong mặt trận văn hóa nghệ thuật. Là một người giàu lòng nhân ái, rất tâm huyết với công việc nên ông được bạn bè, đồng nghiệp đánh giá rất cao. Mặc dù cuộc sống không mấy dư giả với đồng lương công chức nhưng với tinh thần đầy nhiệt huyết Hoàng Hưng đã cho ra đời tập thơ đầu tay “Đất nắng”in năm 1970. Tập thơ thể hiện những tình cảm trong sáng, nhẹ nhàng của một trí thức đầy đam mê nhiệt huyết.

Từ 1973- 1982 ông là phóng viên, biên tập viên báo Người giáo viên Nhândân thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ năm 1982, cuộc đời Hoàng Hưng gặp một biến cố lớn làm thay đổi hoàn toàn sự nghiệp của một người nghệ sĩ tài hoa. Một thời gian dài ông phải sống một cuộc sống trong âm thầm lặng lẽ. Nó như một định mệnh của số phận mà ông phải chấp nhận sống và vượt qua. Bao nhiêu cảm xúc chông chênh đối diện với cuộc đời đã phải kìm nén gói gém trong tâm hồn của người nghệ sĩ ấy. Nhưng với một nghị lực phi thường, ông đã dần vượt qua để quay lại hòa nhập vào cuộc sống, tiếp tục thể hiện cái tôi đầy tài năng và khát khao được cống hiến cho đời những vần thơ hay và đẹp. Ông đã chọn Thành phố Hồ Chí Minh để làm lại từ đầu. Bỏ lại quá khứ, ông luôn nỗ lực không ngừng để hòa nhập vào cuộc sống hiện tại. Tài năng cùng với vốn kinh nghiệm sống sâu sắc đã giúp nhà thơ có được tiếng nói của mình trong xã hội với công việc viết lách. Ông được tham gia viết báo và làm công tác dịch thuật cho nhiều tờ báo khác nhau trong khoảng thời gian từ năm 1990- 2003. Sau thời gian này, ông nghỉ hưu và hiện đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy vậy, khát vọng với thơ trong tâm hồn người nghệ sĩ này vẫn không ngừng nghỉ, nó như một cuộc hành trình chưa có hồi kết. Một con người yêu thơ điên cuồng, chấp nhận sống chết với thơ. Ông từng nói:“Làm thơ là sướng nhất, là hạnh phúc, sao lại nói là mệt. Mệt nhất chính là những lúc không làm được thơ. Đau khổ nhất là khi mình làm được mọi thứ nhưng không làm được thơ…..không làm được thơ là đời mình coi như thất bại”[42]. Trên con đường thơ mà Hoàng Hưng đã chọn, qua mỗi chặng đường là mỗi màu sắc thơ riêng như chính cuộc đời đầy bấp bênh và lắm ngã rẽ của người nghệ sĩ ấy. Hoàng Hưng sáng tác thơ khá sớm, ngay khi đang ngồi trên giảng đường đại học. Sáng tác của ông vào năm 1965 đã nhận được giải thưởng của báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1970, ông cho xuất bản tập thơ “Đất nắng” chuyển tải một tâm hồn thơ mộc mạc, trong sáng, giản dị. Song tập thơ này chưa thật sự ghi dấu ấn trong lòng người đọc. Năm 1988, sau những biến cố vấp phải trong cuộc đời, ông lại tiếp tục hành trình thơ. Tập thơ thứ hai “Ngựa biển”được ra mắt. Là thành quả sau 18 năm trải nghiệm giữa cuộc đời. Hoàng Hưng trở lại lần này đã gây bất ngờ cho đọc giả cùng với giới phê bình nghiên cứu. Phong cách thơ ông đã có sự “lột xác”, ngôn ngữ tinh tế, đặc biệt là nghệ thuật thể hiện đầy mới mẻ của những tầng sâu trong tư tưởng. Chính điều này đã mang đến sự hấp dẫn và cuốn hút cho những người yêu thơ.

Năm 1994, Tập thơ “Người đi tìm mặt”tiếp tục đánh dấu một mốc quan trọng trên con đường thơ của Hoàng Hưng. Nó thể hiện sâu sắc những suy tư của Hoàng Hưng về cuộc đời. Cả tập thơ là tiếng lòng bâng khuâng, sự vận động không ngừng của cái tôi luôn trăn trở, xác định cho mình một chỗ đứng trước thực tại và tương lai. Trăn trở trên con đường tìm cái bản ngã. Xét ở phương diện nghệ thuật là kết quả đáng ghi nhận của nhà thơ trên lĩnh vực sáng tạo từ ngữ, câu thơ, giọng điệu. Hơi thở hậu hiện đại đã được Hoàng Hưng đưa vào tập thơ này. Ngay khi xuất hiện, tập thơ đã trở thành một hiện tượng gây nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến trái ngược. Khi nghiên cứu sâu ngôn ngữ trong tập“Người đi tìm mặt” nhiều nhà phê bình đã chỉ ra những đặc trưng thi pháp mới cũng như những giá trị đặc sắc trong thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Hưng ở giai đoạn này. Cũng từ đó mà tập thơ này đã được đánh giá là một cuộc chuyển giao vừa là thời kỳ vừa thế hệ của thơ Việt Nam hiện đại.

Sau những thành công đáng kể ấy, năm 2005 Hoàng Hưng tiếp tục cho ra  tập thơ “Hành trình”và đã được trao tặng giải thưởng thơ của Hội nhà văn Hà Nộivào năm 2006. Với tập thơ này, nhà thơ chủ yếu thể hiện chất thiền của Phật giáo. “Hành trình” mang trong nó một tư chất Thiền rõ rệt. Vì thế, tập thơ gợi lên cảm giác an lạc mà vẫn “chưa xong”. Tập thơ quá nhiều nỗi niềm, nhiều thành tựu đậm đặc và cũng có những suy tư dang dở. Tư tưởng cốt lõi ấy được đúc rút trên hành trình của những chuyến đi, những kinh nghiệm về cuộc sống hòa vào mạch cảm xúc của miền kí ức cũ và mới. Nhìn lại hành trình sáng tác thơ Hoàng Hưng để thấy đóng góp của ông trong tiến trình cách tân thơ Việt là rất đáng kể. Điều đáng nói là sự chuyển biến trong thơ ông thể hiện tư duy nhạy bén với thời cuộc. Đổi mới là yếu tố then chốt trong sáng tạo nghệ thuật để khẳng định tài năng của người nghệ sĩ. Hoàng Hưng là một trong những nhà thơ đi tiên phong trong công cuộc cách tân thơ Việt. Sự cách tân ấy trước hết thể hiện ở tư duy sáng tác. Ông nói:Cách tân trước hết là phải cách tân cho chính mình chứ không phải cho ai cả. Trước đây thơ tôi có ảnh hưởng lãng mạn, nhưng khi thời đại thay đổi, tâm trạng thay đổi thì thấy cái giọng đó không hợp nữa thì phải đi tìm cách diễn đạt khác. Vấn đề cách tân là để diễn đạt tâm trạng mới của mình bằng ngôn ngữ hay thi pháp mới, chứ không phải mình cố tìm cách cách tân cho mọi người. Vấn đề là đòi hỏi tự nhiên trong tâm hồn mình, nó đòi hỏi sự đổi mới nên phải tìm hình thức thích hợp”[46]

            Sự cách tân trong thơ ông còn biểu hiện qua hệ thống ngôn ngữ đa dạng kết hợp một cách linh động với nhiều biện pháp tu từ để tạo nên sự lạ hóa mang hiệu ứng thẫm mỹ cao. Sự phá cách nhưng vẫn lấy nền tảng tư tưởng cổ điển làm nòng cốt đã tạo cho Hoàng Hưng có một phong cách độc đáo riêng biệt. Minh chứng cho tài năng này, nhiều bài thơ của ông đã được giới phê bình nước ngoài đánh giá cao. Ông có 15 bài thơ được tuyển chọn vào các tạp chí uy tín trên thế giới như (Black Dog; Black Night; Anthology of Contemporary Vietmamese Poetry- Hoa Kì 2007. Hai bài được tuyển vào Văn học thế giới Lifinder). Đồng thời với đó là nhiều bài thơ được dịch và in tại Mĩ, Pháp, Canada, Đức, Hà Lan…

Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng cùng với tài năng và nghị lực vươn lên mạnh mẽ trong cuộc sống. Nhà thơ Hoàng Hưng ngày nay đã khẳng định được vị trí của mình trong làng thơ Việt. Thơ cách tân theo hướng hậu hiện đại của ông ma mị uyển chuyển, là sự thăng hoa về mặt cảm xúc và ngôn từ được mã hóa bằng trí tuệ của một con người từng trải. Chính ông đã vẽ nên một màu sắc riêng, mới và lạ hòa chung trong dòng chảy của nền thơ ca đương đại Việt Nam.

1.2.2. Inrasara nhìn trong tiến trình đổi mới thơ ca hiện đại

Inrasara tên thật là Phú Trạm, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1957 tại làng Chakleng – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Ông là một nhà thơ gốc Chăm. Ngay từ nhỏ ông đã thể hiện niềm yêu thích văn chương. Khi trưởng thành, Inrasara cho thấy niềm đam mê không bao giờ cạn đối với văn hóa Chăm. Ông trở thành một nhà Chăm học: nghiên cứu sâu về ngôn ngữ, văn hóa, văn học Champa. Ông được nhiều người biết đến với tư cách là một nhà thơ song ngữ, viết bằng cả chữ quốc ngữ và Chăm ngữ. Nhưng sáng tác thơ là lĩnh vực đưa tên tuổi ông đi xa nhất: hai lần đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với hai tập thơ Tháp nắng và Lễ Tẩy trần tháng Tư, và Giải thưởng Đông Nam Á – một giải thưởng danh giá và có uy tín trong khu vực với tập thơ Lễ tẩy trần tháng Tư năm 2005 tại Thái Lan. Tuy nhập cuộc vào làng thơ Việt khá muộn nhưng với tinh thần năng nỗ, nhạy bén với thời cuộc, Inrasara đã nhanh chóng hòa nhập để sớm thể hiện một bản thể đầy cá tính. Ngoài hoạt động sáng tác thơ, ông còn viết văn, dịch và viết tiểu luận – phê bình văn học. Ông là hội viên hội Nhà văn Việt Nam, hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hội Văn học – nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tất cả những điều này góp phần tạo nên một Inrasara đầy “dân tộc tính” trong thơ lẫn ngoài đời. Inrasara sáng tác thơ muộn, mãi đến gần 40 tuổi ông mới gửi thơ đăng báo và in tập thơ đầu tay, nhưng cho đến nay, Inrasara đã có một khối lượng tác phẩm xuất bản khá lớn ở các lĩnh vực sáng tác, lý luận – phê bình, nghiên cứu, sưu tầm và dịch  thuật.

Về lĩnh vực nghiên cứu – sưu tầm – dịch thuật: Inrasara đã xuất bản mười ba tác phẩm từ năm 1994 đến 2008. Trong đó đáng chú ý nhất các tập tiểu luận Các vấn đề văn hóa – xã hội Chăm(1999); Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo(2006) Ngoài ra, Inrasara còn  viết chung nhiều cuốn từ điển Việt – Chămvà sưu tầm ca dao, tục ngữ,  thành ngữ Chăm. Với những công trình nghiên cứu đồ sộ, ông đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển văn hóa Chăm nói riêng và văn hóa Việt nam nói chung.

Về thơ Việt Nam từ thời đổi mới, Ông đã có những công trình ghi dấu ấn hậu hiện đại như “Đối thoại hậu hiện đại”(2009),  Song thoại với cái mới, tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, (2008), “Tân hình thức, một bước đi mới” (2008),Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại(2009). Các tập tiểu luận của Inrasara: Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận, Nxb Văn nghệ, 2006. Inrasara còn là chủ biên của tuyển tập Tagalau (Bằng lăng) với mục đích giới thiệu văn học Chăm và nâng đỡ, khuyến khích các cây bút Chăm trẻ. Với những việc làm thiết thực cho văn hóa Chăm và dân tộc Chăm năm 1995, Inrasara cũng nhận được giải thưởng của Trung tâm lịch sử và văn minh Đông Dươngthuộc Đại học Sorbonne (Pháp) với công trình nghiên cứu Văn học Chăm (tập 1). Năm 2010, Inrasara  nhận giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinhvề Nghiên  cứu. Chỉ tính trong hai năm 2014 và 2015, Inrasara cho ra ba cuốn sách về nghiên cứu, phê bình: Nhập cuộc về hướng mở (Nxb Văn học), Thơ Việt, hành trình chuyển hướng say(Nxb Thanh niên), Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ (Nxb Hội nhà văn).

Khác với các nhà thơ dân tộc thiểu số khác, là một người làm phê bình, Inrasara ý thức rất rõ về điều này. Nhờ thế, một mặt ông luôn hướng ra ngoài tiếp thu cái mới, mặt khác Inrasara luôn ý thức rằng phải giữ được cho thơ mình tiếng nói riêng của dân tộc Chăm đầy bản sắc. Đến với chủ nghĩa hậu hiện đại, không giống với các cây bút khác, Inrasara đã tìm hiểu sâu sắc, thấu đáo về nó. Trong nhiều công trình nghiên cứu gần đây, ông đã giới thiệu một cách ngắn gọn, dễ hiểu về tinh thần hậu hiện đại. Inrasara công phu hơn, giới thiệu đến bạn đọc lí thuyết này một cách có hệ thống.

Nhận định về thơ sau 30 năm đổi mới, bằng nhãn quan một nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình đường biên, Inrasara quy thơ Việt về các hướng chính sau: trào lưu cách tân thơ Việt, thơ Tân hình thức, thơ thị giác (visual poetry), thơ nữ quyền, thơ hậu hiện đại, trào lưu thơ Chăm. Inrasara cho rằng nhà văn hậu hiện đại nhập lưu vào mênh mông hiện thực thậm phồn, khắp xung quanh là cả kho tàng trân bảo văn liệu và ngữ liệu sẵn có của nhân loại, họ đến đó, cúi xuống nhặt lấy và khai thác. Mỗi văn bản là một liên văn bản. Mặc cảm đụng hàng không còn nữa. Phỏng nhại, cắt dán là sáng tạo: Sáng tạo hậu hiện đại .Tuy vậy, ông cũng thừa nhận khá công tâm về trào lưu hậu hiện đại như sau: “Hậu hiện đại đang xảy ra tại Việt Nam, đó là thực tế. Lực lượng chưa nhiều. Không ít của chưa nhiều này không tự nhận sáng tác theo hậu hiện đại; còn lại cũng chưa áp dụng đầy đủ thủ pháp hậu hiện đại. Hơn nữa – ngoài nhóm Mở Miệng – mỗi nhà thơ đều sáng tác đơn độc, nên hậu hiện đại Việt chưa thể hình thành một trào lưu rộng lớn, tác động nhiều chiều đến văn học và xã hội nói chung.” [ 29, tr.44]

Sáng tác thơ đã đổi mới, thì theo Inrasara, cũng rất cần một lối phê bình mở mà ông gọi là “phê bình hậu hiện đại” nhằm phá bỏ bức ngăn vô hình giữa “văn chương trung tâm” và “văn chương ngoại vi”. Lối thơ hậu hiện đại đã gặp không ít phản ứng, thậm chí “dị ứng” từ không ít nhà thơ, người đọc và cả nhà phê bình, thì lối phê bình hậu hiện đại cũng gây sốc vì những nhận định thẳng thắn đến thẳng thừng. Ông là người khởi xướng cho lối phê bình mở nhưng không cảm tính, Inrasara xướng  kiểu “Phê bình Lập biên bản”, Ba hình thức phê bình lập biên bản trong lý thuyết và cả thực hành. Sau lập thuyết phê bình lập biên bản, Inrasara triển khai Hồ sơ biên bản so sánh mà tính đến thời điểm này, ông đã hoàn thành 19 “biên bản” về tâm thế và tinh thần sáng tạo khác nhau của các tác giả ở các thế hệ, vùng miền, trào lưu khác. Lại Nguyên Ân đã nhận định trên Vanviet.net (ngày 10/1/2016) như sau: “Dù nhìn từ góc độ tư duy so sánh hay óc phê bình, tôi dám cá rằng những tiền bối sáng giá trong thẩm thơ bình thơ như Hoài Thanh hồi những năm 1940, Lê Đình Kỵ hồi những năm 1960-70 chưa chắc đã thực hiện được những thao tác nghề nghiệp như trên.” Với sự đóng góp ấy, ông được trao Giải Văn Việt lần thứ nhất (năm 2016) về nghiên cứu, phê bình cho loạt bài Hồ sơ biên bản so sánh.

Về lĩnh vực sáng tác, Inrasara đã xuất bản bảy tập thơ và đáng chú  ý nhất là các tập: Tháp nắng(1996), Sinh nhật cây xương rồng(1997),  Hành hương em(1999), Lễ tẩy trần tháng Tư(2002) và Chuyện 40 năm  mới kể & 18 bài tân hình thức thơ(2006), Ở nơi ấy [thơ thời cuộc]Bên cạnh đó, ông còn có tiểu thuyết Chân dung cát (2006). Inrasara quan niệm một tác phẩm văn chương hậu hiện đại trước hết phải chuyên chở cảm thức hậu hiện đại, đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời hậu hiện đại. Với Inrasara, ông nhận thức rất rõ xu hướng toàn cầu hóa hiện nay đang bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội con người trên thế giới. Việt Nam trong quá trình mở cửa, hội nhập vào dòng chảy toàn cầu, đồng thời là quá trình giao lưu, học hỏi, tiếp thu những tiến bộ của thế giới. Trong guồng quay đó, văn chương Việt Nam không thể không bị ảnh hưởng. Nhà văn phải là người nhạy bén trước sự thay đổi cuộc sống, Thơ ông giai đoạn sau phần lớn theo hướng cách tân theo tinh thần hậu hiện đại. Cảm thức hậu hiện đại được thể hiện rõ qua cách đặt tên các tập thơ. Nếu trước đó nhan đề các tập thơ thường rất đẹp, rất thơ, rất lãng mạn và cô đọng như: Tháp nắng, Sinh nhật cây xương rồng, Hành hương em hay Lễ tẩy trần tháng Tư,thì đến giai đoạn sau, cảm thức hậu hiện đại đã chi phối đến cách đặt tên của các tập thơ. Đó là Chuyện bốn mươi năm mới kể & mười tám bài thơ tân hình thức và Ở nơi ấy [thơ thời cuộc]. Tên các tập thơ dài, tên bài có chú thích rõ, nhấn vào yếu tố chuyện đầy dụng ý. Cách chọn đề tài, sử dụng thi liệu, tứ của bài thơ cũng mang dấu ấn hậu hiện đại rõ nét. Tình yêu quê hương đất nước, những vấn đề của đời sống con nguời thời đại và cả những vấn đề nhân loại cũng mang tâm thức hoài nghi hậu hiện đại. Chúng ta nhắc đến ông với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhất là về thơ ca Việt hiện đại, đặc biệt là thơ thời kỳ đổi mới. Nghiên cứu, phê bình thơ ca là lĩnh vực định hình phong cách Inrasara: mạnh mẽ, trung thực, có nhiều phản biện thẳng thắn, nhiều khi quyết liệt đúng với bản tính người Chăm, đặc biệt là rất nghiêm túc, tận tụy và luôn có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ.

Với thơ dân tộc thiểu số, Inrasara tạo được giọng riêng độc đáo, vượt qua khỏi sự ngô nghê, ngọng nghịu giả vờ nhưng vẫn giữ được bản sắc, không bị Kinh hoá. Đối với thơ Việt, Inrasara không những làm phong phú thêm hệ thống đề tài mà hơn hết còn góp phần mở ra một hướng mới trong quan niệm về thơ. Thơ không đâu xa xôi mà hiện diện ngay ở cuộc sống xung quanh mình. Sara nhìn đâu cũng ra thơ, cũng nhặt được ý tưởng cho thơ. Thơ xuất phát ngay từ cuộc sống xung quanh nếu anh sống đủ đầy với nó. Trên tinh thần cảm quan hậu hiện đại trong thơ sauđổi mới của Inrasara biểu hiện trên các phương diện tổ chức văn bản. Là cấu trúc phân mảnh, giọng điệu giễu nhại, thủ pháp cắt dán sử dụng bút pháp của hội hoạ lập thể, hình thức vắt dòng, hình thức trình bày văn bản và cách sử dụng ngôn ngữ. Giống như Lê Đạt quan niệm nhà thơ là phu chữ, Inrasara đặc biệt chú trọng đến việc trau dồi ngôn ngữ. Hành trình cách tân thơ của Inrasara là một nỗ lực vượt lên chính mình và qua hành trình đó giúp ta thấy được những nét cơ bản trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam đương đại. Sự cách tân của ông tuy rất táo bạo nhưng vẫn không xa rời truyền thống. Thơ Inrasara luôn giữ được bản sắc của dân tộc Chăm – cội nguồn cho những sáng tạo của mình. Các giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán tốt đẹp của người Chăm đã được các nghệ sỹ tái hiện lại với thái độ vừa tự hào vừa pha chút dự cảm lo âu về sự suy tàn, mai một của nó. Qua đó làm sống dậy một nền văn hóa Chăm xa xưa, phong phú, giàu sang, hấp dẫn, bí ẩn nhưng cũng rất mong manh trong cuộc sống đương đại đổi thay từng ngày. Vì vậy, dù luôn nỗ lực làm mới thơ, dù luôn tìm tòi con đường đi theo khuynh hướng hậu hiện đại nhưng thơ Inrasara vẫn không hề bị lai căng, Kinh hóa. Thơ ông đi giữa con đường mà một bên là truyền thống với cội nguồn cổ kính, và một bên là thơ hiện đại mang màu sắc mới mẻ, tân kì.

Có thể nói trong làng văn chương đương đại Việt Nam, sự xuất hiện của  Inrasara  đã thực sự  tạo  thành một  hiện  tượng. Cùng với các nhà thơ cách tân, cái nhìn về thơ của Inrasara giúp thơ Việt thoát khỏi sự loay hoay trước đó vì bế tắc đề tài, tạo cơ hội mở rộng tầm nhìn để hoà nhập nhập vào dòng chung của thế giới. Các sáng tác và phê bình thơ của ông thu hút được rất nhiều sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu. Hành trình sáng tác của Inrasara là một quá  trình thể nghiệm những cái mới, cái hay, cái lạ. Ông không phải là người đầu tiên đưa những lý thuyết mới vào sáng tác văn học Việt Nam, nhưng ông là người có công rất lớn trong việc cổ súy những cái mới trong nghệ thuật như: tân hình thức, hậu hiện đại. Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Inrasara là người luôn trăn trở suy tư một cách nghiêm túc về nghề nghiệp. Đặc biệt là nỗ lực tấn công vào hệ thống thi pháp cũ, đem đến cho người đọc một cái nhìn đa diện hơn về thơ và góp phần hình thành hệ thống thi pháp mới.

 

Tiểu kết

Hậu hiện đại không phải là chủ nghĩa nghệ thuật thuần tuý, mà là trào lưu văn hoá mang tính toàn cầu, tác động rộng lớn đến nhiều mặt trong đời sống văn hoá xã hội của nhiều quốc gia. Văn học hậu hiện đại vì thế cũng mang tính phổ quát. Người sáng tác văn chương hậu hiện đại phải mang đầy đủ cảm thức hậu hiện đại, với những phương thức thể hiện mới. Để thể hiện thành công một tác phẩm hậu hiện đại không hề đơn giản. Thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới trong những năm gần đây, các nhà thơ Việt đã vận dụng các thủ pháp hậu hiện đại vào các sáng tác của mình. Thực tiễn cho thấy giữa thơ hiện đại và hậu hiện đại chưa có một đường biên, một ranh giới rạch ròi. Nhìn chung sự cách tân đã có thu nạp những yếu tố của hậu hiện để tạo nên bức tranh thơ đa dạng hơn. Trong bức tranh đa sắc màu ấy, Hoàng Hưng và Inrasara với những nỗ lực cách tân cũng đã tạo nên những dấu ấn hậu hiện đại đặc trưng trong thơ mỗi người.

CHƯƠNG 2

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ HOÀNG HƯNG VÀ INRASARA NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẢM QUAN VỀ THẾ GIỚI VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH

           

            2.1. Cảm quan về thế giới

Văn học nghệ thuật là một phạm trù thuộc ý thức xã hội, là sự đánh giá chủ quan về thế giới khách quan của nhà văn. Xã hội Việt Nam sau“đổi mới” vừa là cơ hội vừa là thử thách đối với mỗi người nghệ sĩ. Nhiều nhà văn, nhà thơ phản ánh hiện thực theo những quan điểm mới và những cách nhìn hoàn toàn mới trong đó có cảm quan hậu hiện đại.

Tác phẩm văn học hậu hiện đại được nhận biết đầu tiên qua yếu tố cảm quan hậu hiện đại.Cảm quan hậu hiện đại (postmodern sensibility) là khái niệm do Lyotard đề xuất và được các nhà hậu cấu trúc (Fokkema, Hassan) hưởng ứng, nhằm biểu đạt cho tâm thức (mentality) cảm nhận thế giới một cách đặc thù. Khái niệm này được áp dụng không chỉ trong văn học nghệ thuật mà hầu khắp mọi ngành khoa học. Cảm quan hậu hiện đại bao gồm hai cảm thức chính: Thứ nhất, xem tồn tại của thế giới như một sự hỗn độn là kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt, là sự phản ánh tâm thế thời hậu hiện đại. Thứ hai, thuật ngữ này biểu lộ “lối viết tiểu luận nhiều ẩn dụ” tức là bằng những liên tưởng, ta có thể  khôi phục lại ý nghĩa đích thực của ngôn từ khởi thủy. Đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại chúng ta đang sống. Là cách nhìn nhận, cảm thụ, đánh giá, suy xét của con người trước các hiện tượng đời sống, trước chính mình và trước nghệ thuật, là sự khủng hoảng niềm tin vào tất cả những giá trị đã tồn tại trước đó. Con người hậu hiện đại nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, sự thay đổi các thang bậc giá trị, sự hoài nghi về một mẫu hình thế giới lý tưởng và chân lý, sự vong thân của con người trước ngưỡng cửa bất an của xã hội hậu hiện đại. Kéo theo đó là sự mất niềm tin vào sự áp đặt của cái chính thống. Con người rơi vào tâm trạng cô đơn, lạc loài…

   2.1.1. Hiện thực cuộc sống đa chiều

Chủ nghĩa hậu hiện đại là sự khước từ các đại tự sự, những chủ thuyết lớn nhằm muốn thiết lập một trật tự xã hội ổn định của thời hiện đại. Nhiều phát biểu của các nhà lý luận hậu hiện đại nhấn mạnh tính “chống lại quyền uy”. Chủ trương “bất tín nhận thức” và “giải trung tâm hóa” tất cả. Thực tiễn đời sống là chất liệu, là nguồn cảm hứng để người nghệ sĩ phản ánh vào tác phẩm với cảm xúc chủ quan của mình. Trước hiện thực đời sống mới, Hoàng Hưng Và Inrasara là những nhà thơ đã có những cảm quan mới về thế giới. Biểu hiện trong thơ của họ mang một cảm thức sáng tác mới (cảm quan hậu hiện đại) phản ánh hiện thực cuộc sống đa chiều, trên bình diện chiều rộng lẫn chiều sâu. Cảm quan chung là vậy nhưng trong thực tiễn sáng tác của mỗi nghệ sĩ lại mang những nét đặc thù riêng.

Với nhà thơ Hoàng Hưng, cảm quan mới ấy đã được phản ánh trong thơ khi đất nước đang trong thời chiến, thể hiện một cái tôi cá nhân rõ ràng và mạnh mẽ. Cảm hứng chủ đạo trong thời chiến là sử thi- anh hùng, ca ngợi lí tưởng và sự hào hùng chiến trận. Trong bài thơ “ Không đề”, Hoàng Hưng lại đưa cảm xúc cá nhân vào với sự cô độc, sự sợ hãi, sự mệt mỏi của con người trong cuộc chiến:

 Chiếc phi cơ ra đi trong đêm

Nỗi cô độc rung lên

Tràn ngập sóng không gian

         Tiếng buồn như biển mênh mang

       Rồi lịm dần trong đêm mất ngủ

   Như ánh sao tự nhạt cuối trời

                                      Sứ mệnh âm thầm ai rõ…

( Không đề – Hoàng Hưng )

Bài thơ được viết ra khi đất nước đang bị chiến tranh, khi mà cả dân tộc đang gồng mình chống giặc ngoại xâm. Như một lẽ tự nhiên nó không thể hòa nhập chung với dòng thơ ca kháng chiến.  Nhưng bài thơ cũng là điển hình của sự đề cao cảm xúc cá nhân của chủ thể trữ tình. Một yếu tố quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ, nếu không dám mạnh dạn bộc lộ cái tôi riêng biệt ắt sẽ trở nên mờ nhạt trước thời cuộc. Hoàng Hưng không ngần ngại thử với cái mới, sự dấn thân có thể khiến người khác phải nghẹt thở và sợ hãi. Trên con đường cách tân thơ ca, ông luôn xem nó như là cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm với cái mới. Đến với thơ hậu hiện đại Hoàng Hưng, người đọc nhận thấy một lối thơ khó đọc, khó hiểu bởi kết cấu đầy mới mẻ, ngôn ngữ phi logic. Sự linh động trong cách ngắt nhịp, sự xáo trộn trong cảm xúc của nhà thơ đôi khi khiến người tiếp nhận khó để bắt nhịp. Xét cho cùng đó là sự bộc lộ của một tư duy cao và mới (tư duy hậu hiện đại). Bài thơ dưới đây là một minh chứng cụ thể cho tinh thần cách thơ bằng phương thức làm lạ hóa ngôn ngữ đến bất ngờ của Hoàng Hưng:

“Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khoắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay.

Bão loạn. Múa vàng. Te tua. Nhừ giấc.

Bão loạn. Rùng rùng. Sặc nước. Giạt tóc. Liên tục địa sầm. Tìm, chết, đi.

Bão loạn. Dứt tung tay. Óc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm vóc miên mai.”

( Đường phố 1- Hoàng Hưng)

 

Xét về mặt hình thức, đã cho thấy sự đổi mới so với thơ hiện đại. Kết cấu văn bản thơ văn xuôi kết hợp với ngôn ngữ lạ hóa. Có lẽ chỉ với bài thơ này của Hoàng Hưng, chúng ta mới biết đến những từ, cụm từ lạ lùng đến vậy: “Lốc dù; Cốc ré; Tiện nghi lạc-xon; Mi-ni mông lông; Rùng rùng; Giạt tóc,Óc lói”. Người đọc cảm nhận bài thơ như một bức tranh thu nhỏ về một thế giới xô bồ, hỗn loạn, đầy bát nháo, tục tĩu…nhưng đó là một thực tế hiện hữu của đời sống ngày nay. Sự lên ngôi của truyền thông, của các phương tiện công nghệ hiện đại, biến con người vào vòng xoáy giữa thực và ảo. Họ tự đánh mất bản thân mình biến thành những cổ máy rôbôt “vô hồn”. Đâu đó, những kẻ “óc lói”,những người đang sống với thế giới thực mà ngỡ “Lơ láo tù về lạc thế kỷ”. Miêu tả một cuộc sống mất trật tự là thế nhưng ngôn từ được lựa chọn vô cùng tinh gọn và đắt. Ngôn ngữ bài thơ mang tính hàm súc đến khó tả. Rất nhiều dấu chấm câu tạo cảm giác bị cắt thành những mảnh rời. Càng làm tăng tính chất dứt khoát, lạnh lùng trong cảm xúc thơ. Qua đó, ta thấy guồng quay cuộc sống mà con người là hạt nhân trọng yếu chứa đựng vô vàn cảm xúc. Các hình ảnh được tối giản đến mức tối đa nhưng nếu soi thật kĩ, ngẫm thật kĩ mới thấy thực tại ấy không hề đơn giản một chút nào. Nhà thơ lặp lại nhiều lần từ “Bão loạn” ngay ở đầu dòng và tiếp sau đó là sự diễn dịch cho chủ đề ấy. Sự đan cài giữa động từ và tính từ mang biểu cảm mạnh tạo tính phức hợp, biểu lộ trạng thái tinh thần ngao ngán của chủ thể sáng tác. Tinh thần hậu hiện đại trao cho độc giả nhiều quyền tự do trong tiếp nhận. Tuy nhiên, cảm nhận chung ở bài thơ này là một tứ thơ với thông điệp của sự “Bão loạn”. Bão trong đời sống và bão cả trong suy nghĩ của con người trước thời cuộc.

Với Inrasara, sáng tác thơ thời kỳ đầu chủ yếu theo hướng “hậu lãng mạn” với những tập thơ “Tháp nắng”, “Sinh nhật cây xương rồng”, “Hành  hương em”.Những tập thơ mang đậm vẻ đẹp và tâm hồn của người con Chăm. Đến “Lễ tẩy trần tháng tư” cảm thức hậu hiện  đại đã bắt đầu manh nha. Trong tập thơ này, những nỗi hoài nghi mơ hồ đã xuất hiện bên cạnh niềm tin cuộc sống. Những vấn đề của đời sống con người thời đại và cả những vấn đề nhân loại cũng đã được đặt ra bên cạnh tình yêu quê hương đất nước truyền thống. Nhưng phải chờ đến Chuyện 40 mươi năm mới kể & 18 bài tân hình thức thơ và Ở nơi ấy [thơ thời cuộc] (chưa in chính thức nhưng đã công bố một số bài trên tienve.org), Inrasara mới thực sự bứt phá, dấu ấn hậu hiện đại đã thực sự đậm nét. Sự thể hiện mạch cảm xúc hướng về đời thường, những chuyện bây giờ mới kể bởi trước đây không được kể, không nên kể trong thơ, những chuyện tầm phào như: mở, đóng chuồng bò; một cái cây bị chặt…Tuy nhiên đằng sau những câu chuyện ngỡ như phiếm ấy là những suy tư chiêm nghiệm của nhà thơ về thân phận con người và cuộc sống. Hiện thực đời sống được soi ngắm từ nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Đó là sự trầm tư sâu lắng về những vô chừng thế cuộc ở tầm khái quát cao, mang cảm quan hậu hiện đại. Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, xã hội và nhân sinh trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vậy nhưng nhà thơ lại đang phải chứng kiến cuộc sống gắn bó với mình là sự lạc hậu, thụt lùi so với thế giới rộng lớn bên ngoài:

 

   Tôi sống trong cộng đồng mà mọi thứ

đều lùi. Những cái cây mọc lùi nhỏ,

  nhỏ dần vào hạt mầm, tận kiếp trước

      của hạt mầm. Những con sông chảy lùi,

 

  rất xiết. Thằng bạn tôi, đám cháu của

                                     tôi, anh em cha mẹ tôi đi thụt

                                     lùi, bé, bé dại dần. Tôi đứng nhìn

họ, bất lực. Không thể níu. Những ý

 

                                     tưởng thụt lùi về cổ sơ,….

                                     Một mình tôi đứng cô độc…

(Sống Lùi – Inrasara)

Inrasara buồn với nỗi buồn vì sự lạc hậu. Tư duy con người lạc hậu kéo theo nhiều thứ lạc hậu. Những con người với nếp nghĩ đơn giản nên cuộc sống vì thế rất đơn điệu. Con người chấp nhận sự nghèo đói, thiếu thốn, sống luẩn quẩn với vùng đất nhỏ bé chật chội ấy. Nhà thơ chứng kiến sự bế tắc không có lối thoát của những người thân quanh mình cảm thấy bất lực. Ông trở thành kẻ cô độc trước cuộc sống thực tại “tưởng như lùi về cổ sơ”. Nếu Hoàng Hưng có khả năng thâu tóm được bức tranh cuộc sống thực tại chứa bao sự hỗn loạn bằng những từ ngữ cô động thì Inrasara lại kể những câu chuyện thơ về cuộc sống như những tiểu tự sự. Ở mỗi bài thơ là một câu chuyện đời thường, kể về một cuộc đời, một con người, một sự việc như (Trong chuyện người đời thường – Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài tân hình thức và Ở nơi ấy [thơ thời cuộc] ) là những chuyện kể về Anh Đạm, Thư cho & của Phăng; Chấm phá Trà Vigia; Hàm Bộ; giấc mơ triển hạn; Trà Ma Hani; Một ngày trong đời Trần Wũ Khang; Diệp Mi Lan hay Đoản thi lãng mạn mới; Kẻ quê;  Chuyện hắn; Chuyện nó; Chuyện tôi; Chuyện chữ; Màu cứu độ; Điệu cuồng vũ buồn; Chuyện Chăm H’ri; Niềm bí mật Chăm hay Chuyện Ông Mưdwơn Tìm; Chuyện Ông Klơng Man 1, 2; Chuyện anh T’Maung; Bí ẩn của thân xác hay Chuyện Ông Dhan Than;Yêu nhau 3 thì; Liên khúc chuyện tình vùng cao; Khoảng trắng còn lại; Sống như là thói quen; Muộn; Cuộc sống nhưng không ; Nhà thơ đọc thơ mình; Có lẽ chỉ có anh; Chẳng có gì trầm trọng cả; Chờ tàu; Sông Lu; Một ngày trong đời của Trần Wũ Khang;  Sống lùi. Bài thơ  “Anh Đạm”là ví dụ tiêu biểu cho vấn đề nêu trên:

 

Có người thơ tấp tểnh đi buôn

                                          lận lưng ít nắng quê làm vốn

                                          đi, cứ đi phiêu giạt đất trần                        

      chân sạn, buồn đầy, hai tay trắng

 

  Hai mươi năm trở lại xóm thôn

      cũ tiếng bò trưa, vầng trăng muộn

                                          mới điệu cười, lạ nhịp sống

                                          Hốt nhiên

                                          chàng úp mặt

                                          khóc oà.

(Chuyện 1. Anh Đạm- Inrasara)

 

Cảm quan về cuộc sống đa chiều là những câu chuyện kể, cảm nhận về cuộc sống đời thường muôn mặt. Inrasara kể câu chuyện “anh Đạm”cũng là câu chuyện chung của nhiều con người khác. Con người đối mặt với cuộc sống mưu sinh đầy gian khổ. Họ phải bỏ làng ra đi phiêu bạt tứ phương nhưng quê hương vẫn là chốn dung thân cuối cùng. Những hình ảnh của “nắng quê”, “ xóm thôn”, “ tiếng bò trưa”...gợi lên sự thân thuộc giản dị. Ngôn ngữ thơ Inrasara so với Hoàng Hưng có phần mộc mạc, dễ hiểu hơn. Nhà thơ rất hạn chế sử dụng từ vựng Chăm. Dẫu vậy, ở đâu đó ta vẫn nhận ra chất riêng toát ra trong tinh thần của nhà thơ này. Ở trong những câu chuyện là những con người, những địa danh, sự việc gắn với quê hương ông.Tinh thần “khẳng định cá nhân qua bản thể dân tộc ”vốn rất điển hình trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số. Nhiều nhà thơ đã thể hiện rõ niềm tự hào và ý thức khẳng định bản sắc dân tộc của mình với lối viết theo mĩ học truyền thống như Dương Thuấn (dân tộc Tày), Lò Ngân Pờ Sảo Mìn (dân tộc Pa Dí), Sủn (dân tộc Dáy), …. Còn Inrasara lại thể hiện sự bắt nhịp nhanh nhạy với thời đại, một mặt vừa có ý thức giữ gìn các giá trị bản địa, mặt khác lại quyết liệt, xông xáo hướng ra thế giới bên ngoài để khám phá, đổi mới. Đó chính là kết quả của tinh thần và thái độ “nhập cuộc theo hướng mở” đầy mạnh mẽ và tự tin của tác giả. Ông đã từng bày tỏ: “Một tác phẩm văn chương, nếu nó không mang chở yếu tố thời cuộc của thời đại nhà văn sống, thì nó sẽ không nói được gì nhiều”.[28] Chính vì vậy, Inrasara vừa có vị thế với thơ dân tộc thiểu số nói riêng vừa là gương mặt độc đáo và nổi bật giữa nền thơ Việt Nam đương đại.

2.1.2.Hiện thực bất an phi lí

Bất tín nhận thức (Epistemological Uncertainty) là một phạm trù thế giới quan tiêu biểu nhất cho ý thức hậu hiện đại.  Là sự khủng hoảng niềm tin vào các siêu giá trị đã tồn tại. Các nhà hậu hiện đại quan niệm về thế giới như một sự hỗn độn, vô nghĩa và bất khả nhận thức, thế giới phi trung tâm mà con người trong mối quan hệ với nó luôn thể nghiệm “sự hoài nghi quyết liệt mang tính nhận thứcluận và bản thể luận” (N.Bertens). Bất tín nhận thức về một thế giới hỗn mang, một hiện thực thậm phồn (hyper-reality) là một phạm trù thế giới quan tiêu biểu nhất cho ý thức hậu hiện đại. Con người không biết chắc thế giới, và cũng hoài nghi cả suy nghĩ hay hành động thường nhật của bản thân. Thuật ngữ “bất tín nhận thức” hay bất tín lý trí thuần túy (Epistemological Uncertainty) đã được Immanuel Kant (1724-1804) đề cập từ lâu. Sau đó được các nhà lý thuyết hậu hiện đại như Jacques Derrida (1930–2004), Jean Francois Lyotard (1924)… phát triển. Theo đó vấn đề được hiểu rộng ra đó là “con người bất tín vào đấng tối cao [đủ loại đấng tối cao], bất tín hệ thống [triết học hay ý thức hệ chính trị], bất tín ngay cả nhận thức của chính mình”[35, tr.189].  Điều đó có nghĩa là họ không đặt niềm tin vào bất cứ nguyên tắc cấu trúc nào thuộc quan niệm tổ chức thế giới như Thượng đế, chúa trời hay các quy luật vật lý. Các nhà văn hậu hiện đại phản ánh hiện thực đời sống là một mớ hỗn độn giữa thực và ảo. Cũng như nhiều nhà thơ hiện nay, thơ Hoàng Hưng và Inrasara phản ánh hiện thực bất an phi lí là biểu hiện của cảm thức hậu hiện đại. Cụ thể hơn đó gọi là  tính hiện thực thậm phồn nó tạo cho con người cách làm quen với một cách hiểu  mới về một hiện thực mới, đó là hiện thực “của bất cứ điều gì con người có thể nghĩ hay tưởng tượng được”[51]. Con người không còn tin vào các chủ thuyết lớn. Không tin vào những gì tốt đẹp làm nền tảng, lí tưởng ở cả ba thì: Quá khứ- hiện tại- tương lai. Sự gặp gỡ trong tư tưởng của Hoàng Hưng và Inrasara là có sự phá sản của niềm tin thần thánh, Chúa, Thượng đế. Thượng đế hay chúa trời hoặc những đấng tối cao là niềm tin để che chở cho con người. Trước một thực tại đảo lộn, phi lí khiến niềm tin ấy dần hao mòn đi, con người rơi vào trạng thái bất an, lo lắng. Các chủ thuyết lớn vẫn đang tồn tại nhưng đang bị “ Giải trung tâm”, niềm tin bị lung lay nghiêm trọng, vì thế chẳng mấy ai còn tin vào điều kỳ diệu trong cuộc sống:

    Có lẽ chỉ còn ít người còn tin

vào điều kỳ diệu chưa chết

                                       vào khởi đầu đã xa

(Có lẽ chỉ có anh – Inrasara)

Trong cái thế giới nhỏ bé, chật chội, con người bị gò bó trong khuôn rào của lễ giáo; trách nhiệm cá nhân gắn với cộng đồng; Sự pha tạp văn hóa kéo theo phá vỡ tính truyền thống; Chiến tranh biên giới giữa các quốc gia gây chết chốc và mất mát…Tất cả khiến con người thấy sợ hãi, lung lay, mất niềm tin vào đấng tối cao. Phỏng theo câu nói của Nietzsche một triết gia phương tây “Thượng đế đã chết”. Inrasara lấy cảm hứng từ đó để viết bài “ Thượng đế lạc hậu” như sau:

Ông chưa nghe tên Nietzsche bao giờ

   và chắc sẽ không bao giờ nhưng

     ông thét lên: Thượng đế đã chết…

                thượng đế đã chết nhưng không. Ông nói

                                    thượng đế không chết

thượng đế đang rớt lại phía sau

(Thượng đế lạc hậu – Inrasara)

 

Nhà thơ Hoàng Hưng lại thể hiện chất hiện thực là sự chiêm nghiệm về một thế giới đầy mâu thuẫn, khó hiểu, khó lí giải. Cuộc sống như những mảnh vỡ được đan cài bỡi những mặt đối lập. Bản chất của thực tại đôi khi thật phũ phàng nhưng buộc con người phải chấp nhận:

Không còn Chúa cho người xưng tội

   Chỉ chờ xem trừng phạt lúc nào

                                     Em bi phẫn ở hiền sao gặp ác

Ác trong hiền chứ ác ở đâu…

( Định mệnh – Hoàng Hưng )

Trong thơ Hoàng Hưng hiện thực ấy còn là sự mơ hồ, thực và ảo lẫn lộn. Ở bài “Đường phố 2”, ta thấy con người cảm nhận không gian bằng con mắt đầy lí tính, những va đập mạnh của các giác quan. Bài thơ còn cho thấy mối giao hòa đặc biệt, thơ đi giữa nhiều đối cực, giữa thời sự và tâm linh, mơ mộng và thực tại, nóng bỏng và chán chường… Bầu khí quyển như bị rút cạn khiến con người cảm thấy cuộc sống trở nên ngột ngạt, khó thở, bơ vơ và vô định. Khả năng biểu tượng hóa ngôn từ ở bài thơ rất cao, nhiều ẩn dụ nhưng rất thời sự mà vẫn quyến rũ:

“Dường như ra khỏi nhà bằng một khung ngực rỗng. Hai bàn tay đỡ mắt mờ. Chợt thấy chiều trên phố say. Đỉnh vú đi lừng lững. Đèn đuốc cháy lưng trời. Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm. Hội quỷ ma nhảy múa thét gào. Tan biến ta đi chiều mọc cánh… ”(Đường phố 2- Hoàng Hưng)

 

Con người, trong vòng quay chóng mặt của đời sống toàn cầu hoá, của sự phát triển như vũ bão của thông tin và kỹ thuật hiện đại, chợt nhận ra sự bất lực, nhỏ bé của bản thân. Số phận con người, trong cơn khủng hoảng của thời đại và sự xâm thực của các giá trị, thực, ảo lẫn lộn, hữu thể và tồn tại của mỗi cá nhân con người đã, đang và có thể sẽ trở nên bất khả giải. Một câu hỏi lớn về những hoài nghi thực tại, về số phận nhỏ bé của con người, về những hoang mang trong thế giới hỗn độn, đầy bất trắc. Và rồi liệu con người chỉ biết khóc trước một nền văn minh đang tồn tại?Inrasara thể hiện hiện thực đó bằng hai câu thơ sau:

Vắt đến giọt nước mắt cuối cùng

Anh khóc vào văn minh hoàng hôn

(Khởi động của khởi động- Inrasara)

  Sự đổ vỡ niềm tin hoàn toàn vào thế lực siêu nhiên không chỉ ở quá khứ và hiện tại mà con người thời đại mới cũng mất hẳn niềm tin vào tương lai:

một hoài vọng đang chết và

                           một nền văn minh đang chết

                           niềm tin đang chết

(Điệu cuồng vũ buồn hay chuyện Ong Ka-ing Cân- Inrasara)

Trong thế giới này, nhiều thứ tưởng như hữu hình thì hóa ra đều là hư vô. Cuộc đời tưởng là rộng lớn nhưng thực ra lại rất chật hẹp, quẩn quanh, nhàm chán, đơn điệu và bế tắc. Con người sống giữa cuộc đời luôn hoài vọng về những điều tốt đẹp, tưởng như có thể tự nắm bắt được số phận của mình nhưng thực ra họ chỉ là những hạt cát bé nhỏ, trôi dạt, vô định, luôn phải đối mặt với những bất trắc và rủi ro. Nền văn minh mà con người cố tạo dựng đôi khi lại trở nên vô nghĩa, vì chính nó lại đang tạo ra những giá trị ảo khiến con người mất phương hướng. Con người mất niềm tin vào chính nền văn minh của mình. Hiện thực cuộc sống hỗn độn, bấp bênh, phi lí đã khiến cho con người nói chung và những người nghệ sĩ nói riêng cảm thấy bất an. Thế giới ấy không còn nguyên vẹn như trước mà thay vào đó là nỗi thất vọng, chán chường.

 2.2. Cái tôi trữ tình

Khác với văn xuôi, thơ thường là sự giải bày nội tâm của chính người sáng tác, chúng ta thường gọi đó là “ cái tôi trữ tình” hay “chủ thể trữ tình”.

Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để thể hiện nhận thức và cảm xúc của tác giả về thế giới và con người thông qua việc thiết lập phương thức biểu hiện trong thơ bằng một giọng điệu riêng. Qua đó, người đọc sẽ nhận thấy được thế giới tinh thần độc đáo mang tính thẩm mỹ của từng tác giả. Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ, mỗi thời kì lịch sử, của các trào lưu, khuynh hướng. Chính vì vậy, mỗi thời đại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai trò chủ đạo.

Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian là cái tôi phi cá thể hóa. Do đặc trưng của loại hình nên chủ thể trữ tình không xác định danh tính của người sáng tác. Cái tôi trữ tình trong thơ ca trung đại lại thường tồn tại trong những quy tắc, luật lệ, khuôn mẫu. Nhà thơ thường đi tìm sự hài hòa với cộng đồng và vũ trụ. Sau này, cái tôi trữ tình ấy dần phá bỏ tính phi ngã để bộc lộ tính chất tự nhiên của mình như các tác giả Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát…Đến với thơ ca lãng mạn cái tôi trữ tình đã có sự thoát xác, các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới thể hiện được cá tính cá nhân mạnh mẽ. Phong trào thơ mới 1930-1945 là một hiện tượng văn học phong phú nhưng khá phức tạp. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh khi nhận xét về chủ thể trữ tình trong thơ thời kì này đã khẳng định: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.”[39,tr. 30]. Biết bao nhiêu vì tinh tú đã xuất hiện trên thi đàn với những cá tính riêng biệt đã góp phần làm phong phú cho nền thơ ca Việt Nam. Trong thơ ca cách mạng, gắn với hoàn cảnh lịch sử kháng chiến của đất nước. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đình Thi… là cái tôi hòa nhập với cộng đồng, hòa vào cái chung của cả dân tộc.

Đến thơ hiện đại và hậu hiện đại, cái tôi trữ tình đã được đề cao tuyệt đối, cảm xúc cá nhân từ những chuyện rất riêng. Đặc biệt theo xu thế thời đại càng những riêng tư khó nói, càng những vấn đề mà mọi người né tránh chưa dám đối mặt thì các nhà thơ lại càng hăng say tìm kiếm. Thơ hậu hiện đại diễn tả nội tâm con người thời đại đủ mọi bình diện, nhất là bình diện bản năng ở tầng thẳm sâu vô thức, tâm linh,…Thi sĩ nhạy cảm với cái mới vượt thoát khỏi sự kìm tỏa của chủ nghĩa duy lí. Chủ thể trữ tình vì thế cũng rất tự do trong việc kể chuyện riêng tư về đời mình, không hề dè dặt và đi vào tận cùng sự nhỏ lẻ của đời sống thường nhật. Ta có thể bắt gặp cái tôi trữ tình trong bài “Tạ lỗi ”của Jalau Anưk, một cái tội bị vỡ vụn khi chạy theo những giấc mơ của ảo vọng. Trong vòng xoáy của cuộc sống, con người nhiều khi mơ hồ không thể nhận ra những giá trị đích thực quanh mình, ảo tưởng với những gì xa lạ để rồi bị rơi vào vực sâu do mình tạo ra. Cái tôi vì thế trở nên bơ vơ, lạc lỏng giữa cuộc đời:

 

Thuở ấy tôi đi  

                                               Với

                                               hào quang trước mắt

                     ngỡ được tắm trong thế giới diệu kì

                  ngỡ hái trọn bao trái cây mơ ước.

                                               Thuở ấy tôi đi…

       mang nông nỗi thời trai trẻ

                      bơm háo thắng qua vụn vặt kiến thức

                                       nuôi xảo quyệt cơm-áo-gạo-tiền phủ bẩn giấc mơ

( Tạ lỗi , Tagalau 4, 2005- Jalau Anưk )

 

Trong tâm thế của con người sống ở thời hiện đại, hơn thế còn là một nhà thơ, Hoàng Hưng cho chúng ta thấy những câu thơ rất độc đáo như sau:

Vào xa lộ/ta tìm ta/ Rừng chữ/ Ta thấy ta rồi/ sằng sặc cười/nước mắt một đời/ đổi một dòng hư ảo/ thế thôi?(Xa lộ thông tin – Hoàng Hưng)

Sống giữa xa lộ thông tin ngày của thời đại ngày nay, phải chăng con người sẽ khó khăn hơn khi tìm thấy bản chất thật của mình. Người nghệ sĩ cũng sẽ khó khăn hơn khi tìm kiếm những cảm xúc trong sáng tác? Khi lí giải về điều này nhà thơ trả lời rằng: “Xa lộ thông tin là một tình thế mới cho các nhà thơ của chúng ta. Trước đây họ đứng ở một góc rừng hẻo lánh, một cái ao con con, tưởng mình là nhất, nay họ bước ra ngoài gặp xa lộ thông tin mênh mông nên cảm thấy choáng ngợp. Rồi chợt nhận ra mình chỉ như một hạt bụi vô nghĩa, mất hay còn đều không quan trọng. Tôi đi tìm mình, cũng tìm được nhưng rồi cũng nhận ra mình bé nhỏ quá” [46]

Điều đó cho thấy rằng, trước thời đại thông tin phát triển như vũ bão thì cuộc đi tìm chữ trong sáng tạo nghệ thuật cũng trở nên khó khăn hơn trước đây. Hoàng Hưng đi tìm chữ cũng là tìm mình, tìm tiếng nói riêng để khẳng định cá tính của mình. Chủ thể trữ tình nhận thức rất rõ mình đang ở đâu và mình đang làm gì ở trong thế giới mới này. Nhà thơ không tự đề cao mình ngược lại ông cho mình chỉ là một hạt bụi nhỏ bé. Hơn thế người nghệ sĩ ấy luôn trăn trở, tìm kiếm một chân lí của nghệ thuật mặc cho cuộc đời gặp nhiều trắc trở, gian nan và lắm thách thức. Hoàng Hưng là người yêu thơ hết mực, thơ như là nguồn sống của ông. Lẽ dĩ nhiên, nhà thơ luôn mong muốn sáng tác được những bài thơ mà mình thấy hài lòng nhất. Thành công ấy được ông ví như là khi lên được “ đỉnh bài thơ”. Thời hiện đại cho con người sự tiện nghi và vật chất đầy đủ nhưng phải chăng cũng vì thế lại làm cho con người bị đóng băng cảm xúc. Nhà thơ thể hiện lo lắng và tự  vấn mình trong bài “Bạn thơ”:

Ta không lên được đỉnh bài thơ

Dù xi măng đã xây lên đến đỉnh

       Hay chính vì bậc xi măng đã xây?…”

( Bạn thơ – Hoàng Hưng )

Nhưng rồi nhà thơ cũng sớm nhận ra rằng chỉ cần yêu thơ và sống với thơ hết mình thì đỉnh bài thơ không ở đâu xa xôi mà rất gần gủi thiết thân quanh mình:

Thực ra bài thơ không ở trên ngọn núi

        Mà ở dưới chân, phía lưng núi quay ra biển

( Bạn thơ – Hoàng Hưng )

Con người luôn muốn thể hiện cái tôi của mình, nó như là bản năng của tạo hóa. Với những người nghệ sĩ, họ càng muốn khẳng định cá tính sáng tạo của mình. Sống trong một thời đại mới, xã hội biến đổi không ngừng đôi khi người nghệ sĩ cũng hoài nghi về chính bản thân họ.Ta bắt gặp những dòng thơ của Inrasara với những câu hỏi lớn như: Con người ở đâu trong cái thế giới này? Cá nhân nhà thơ ở đâu  trong cái thế giới này? Vấn đề đó có lẽ cũng không quan trọng khi người nghệ sĩ ấy tự mở cho mình một con đường tự do trong sáng tác. Đó là tinh thần giải trung trong sáng tạo của nghệ thuật hậu hiện đại:

Không bên lề không trung tâm

                        tôi trú trên đường biên Không ngoài luồng không chánh lưu

                       sống như thể không đường biên Cũng chẳng có gì trầm trọng cả! mỗi các ông cứ dựng chòi

mỗi các ông cứ có mặt như một biên giới.

(Đề tựa – Inrasara)

Sự sáng tạo không vì danh lợi mà người sáng tác phải luôn là những người tiên phong lao vào và chấp nhận sự va đập với cuộc đời. Inrasara phê phán những kẻ đại ngôn, đứng ngoài lề cuộc sống dân tộc, đất nước, né tránh sự thực nhưng lại muốn mang danh hảo. Nhà thơ chân chính phải là những người:

Không vỗ ngực Không tranh hơn

           Không chạy trốn những phận đời thất bát

  Luôn có mặt ở nơi khổ đau có mặt

(Ngụ ngôn viết cho mình – Inrasara )

Đặc biệt đặt chân sang địa hạt của thơ hậu hiện đại, Inrasara đã không còn nhốt mình trong tháp ngà nghệ thuật lung linh của cá nhân mình nữa mà ông đã xả mình lăn lóc giữa dòng đời để, cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ với mọi người. Đó  là một cách Inrasara góp thêm cái nhìn giải thiêng cho thơ. Thơ không đâu xa xôi mà hiện diện ngay trong cuộc sống hàng ngày, thường ngày với cả những điều ngỡ như vụn vặt nhất. Có thể thấy cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ Inrasara là một cái tôi mạnh mẽ đầy quyết đoán. Cái tôi ấy hoạt động vì nghệ thuật và sáng tạo vì nghệ thuật một cách khách quan. Ta bắt gặp sự đồng điệu trong quan niệm vì nghệ thuật ở nhà thơ Inrasara với một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam đó là nhà văn Nam Cao. Thơ Inrasara đi sâu khám phá số phận những con người đời thường lam lũ, số phận cơ cực bất hạnh. Những con người vẽ nên khuôn mặt quê hương để ông ngụp lặn vào đấy hút đầy cảm xúc cho thơ.

Qua đó, ta thấy cái tôi cá nhân trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara đều thể hiện những nét riêng, độc đáo của mỗi người. Họ là những người yêu thơ và luôn trăn trở, tìm tòi, sáng tạo những cái mới cho thơ. Dấu ấn hậu hiện đại trong cái tôi trữ tình hai nhà thơ này đều phản ánh được cảm quan hậu hiện đại. Cái tôi trữ tình ấy là khát khao thể hiện bản thân mạnh mẽ nhưng luôn gắn bó với cuộc sống đời thường. Họ muốn đem đến cho người đọc sự gần gủi thân thuộc, phản ánh cuộc sống đa diện của thời đại mới.

2.2.1.Cái tôi hoài nghi thực tại

Cái tôi hoài nghi với thực tại được hiểu là cái tôi bất an, luôn trong trạng thái lo âu, hoang mang, đầy dự cảm trước một bối cảnh sống chất ngất rủi ro. Trải qua những thời kì lịch sử khác nhau, con người có những cảm nhận và tâm lí khác nhau với thực tại. Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, hệ tư tưởng chính trị, cùng hàng loạt những ngẫu nhiên, may rủi xảy ra, con người đã luôn phải sống thường trực với tâm thế hoài nghi, bất an. Cuộc sống thời hiện đại của thời kì hội nhập, toàn cầu hoá. Thời đại của truyền thông, kĩ thuật số lên ngôi, giường như những giá trị thực dần nhường chỗ cho giá trị ảo. Cuộc sống trở nên hỗn độn, méo mó, tạp nham. Cảm thức hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara được thể hiện rõ qua cái tôi hoài nghi với thực tại.

Sử dụng thủ pháp giản lược tối đa ngôn từ của nghệ thuật hậu hiện đại trong bài “Vụt hiện”. Hoàng Hưng biểu thị mọi giác quan để chuyển tải đến người đọc về một thế giới đầy náo loạn. Những âm thanh và hình ảnh như thể bị xô đẩy, ngã nghiêng, chồng xếp lên nhau trong một thế giới đảo điên. Thế giới trắng đen lẫn lộn ấy khiến chủ thể trữ tình cảm thấy hoang mang, nghẹt thở như đang chết chìm:

“Nghe, nghe và đám mộng. Buồn dứt thuốc lá. Ngón tay, tóc, mắt, đáy cốc, kim đồng hồ, đêm, bão biển, hải tạc, nót ruồi. Ai hát ở bên kia thế giới. Đàn ông hay đàn bà. Đô thành treo ngược. Đen. Đá. Đen. Đá. Phóng thích. Chết chìm…”

( Vụt hiện – Hoàng Hưng)

Ở bài thơ “Những ngày rỗng”,Inrasara lại vận dụng bút pháp dòng ý thức, ông xáo trộn các bình diện không gian, thời gian, cảm xúc… tạo nên một thế giới kì quặc, phi lí:

Thức giấc/ nán lại nhìn

                           cái bóng xa lạ thiết thân đến xuyên tường đồ vật đặc dày

                           lù lù có mặt

                           không thể ghì níu, trốn chạy, đuổi xua, ôm ấp.

 

                           Người bạn kiếp xưa chiều mưa muộn đột ngột hiện về

                           người tình kiếp sau một đêm tả tơi gõ cửa.

(Những ngày rỗng – Inrasara)

Thực tại hỗn loạn, xô bồ, đầy bất trắc, con người trong cuộc sống ấy dần tha hoá, mất niềm tin, hoài nghi tất cả những gì thuộc về thực tại và con người trở nên mất phương hướng. Inrasara cũng như Hoàng Hưng đã bộc lộ những cảm xúc hoài nghi và sự mất phương hướng trong thơ họ như sau:

Tôi sẽ đi về đâu không biết

  Có lẽ phía câm lặng số phận

(Hành trình, 2001- Inrasara)

Ta là ai trên xứ sở này?

                     Vì sao ta tới đây? Ta làm gì? ta muốn gì?

( America – Hoàng Hưng)

Cả hai nhà thơ đều đặt ra những câu hỏi cho mình. Phải chăng họ băn khoăn tìm cho mình một chỗ đứng giữa cuộc đời, tìm cho mình tiếng nói trong thơ. Khi mà các giá trị thật trong đời sống dần bị biến mất thay vào đó là sự giả tạo thì niềm tin của nhà thơ cũng mất đi. Nỗi hoang mang, bất an, sự hoài nghi về các giá trị sống được thể hiện trong bài “Chuyện tôi”,Inrasara đã dẫn chứng về sự ngụy tạo của người trí thức. Khi mà ở đâu đó, con người khoác lên mình tấm áo trí thức dổm hào nhoáng bên ngoài. Vỏ bọc ấy sẽ ngấm ngầm làm hoen ố nền tri thức của xã hội. Phá hoại và làm rữa mục nền móng văn minh mà con người đã và đang tạo dựng. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị lai căng, những giá trị văn hóa bị hủy diệt. Nhà thơ chứng kiến hiện thực ấy khiến cảm xúc dần bị cạn kiệt. Họ sợ sẽ không thể sáng tạo được những vần thơ hay và có giá trị. Inrasara đã tự vấn bản thân và ông nghi ngờ ngay chính bản thân mình. Nhà thơ tự tra vấn mình đang là gì? làm gì? và rồi tự mình trả lời cho câu hỏi ấy đầy hoài nghi với một nỗi sợ lớn. Nhà thơ sợ những thứ “ không hẳn” ấy sẽ làm hao mòn những giá trị của thi ca:

trí thức không hẳn trí thức

     truyền thống không thật truyền thống

                                  thi ca vắng  mặt thi ca

(Chuyện 11, chuyện tôi – Inrasara)

Trong thơ Hoàng Hưng, con người cô đơn đến khủng khiếp. Cái tôi ấy luôn đối diện với chính mình, nhận thức đến thấm thía bi kịch nhân sinh cộng  với nỗi đau thế hệ. Ta còn bắt gặp cái tôi hoài nghi trong thơ Hoàng Hưng là nỗi niềm trăn trở, suy tưởng và sự ám ảnh của con người cô đơn lặng lẽ giữa cuộc đời. Nhà thơ gửi gắm sự cô đơn ấy vào những vần thơ xuất phát từ trái tim của một con người phải nếm trải nhiều cay đắng từ cuộc sống. Thế giới đầy rẩy sự bất thường, những giá trị đều được đặt lên bàn cân nghi vấn, khiến con người rơi vào khủng hoảng tinh thần. Hoàng Hưng đã bộc lộ thái độ ấy rất rõ trong bài “Chạy”:

Chạy một mình

Trong bóng tối

                                                Bỏ quên tôi

                                                Cả thế giới

                                                Trái đất ngủ

 Một mình tôi…

(“Chạy”- Hoàng Hưng)

Bất an, hoài nghi đi đến giải thiêng là tâm thức chung của con người về một thế giới mới nên cái tôi hoài nghi với thực tại là biểu hiện phổ biến trong thơ hậu hiện đại. Một thế giới hội nhập toàn cầu, thời đại của nền công nghệ truyền thông. Con người chạy theo những giá trị ảo đánh mất bản thân mình. Quan hệ giữa con người và con người không được coi trọng. Con người trở nên vong thân, cảm thấy cô đơn lạc lõng với cộng đồng. Những người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm như Hoàng Hưng và Inrasara cũng đã thể  cái tôi hoài nghi với thực tại rất rõ ràng và sâu sắc.

 2.2.2. Cái tôi truy tìm bản thể

Cuộc sống của mỗi con người là quá trình đi tìm bản thể.. Sự vận động cho phép mỗi cá nhân không ngừng nhìn lại bản thân, hoàn thiện bản thân mình. Người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm thì hành trình đi tìm cái tôi còn là hành trình truy tìm bản thể trên con đường sáng tạo nghệ thuật.

Hoàng Hưng và Inrasara là những cái tên sáng giá trong hành trình đi tìm cái mới cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Hoàng Hưng bắt tay vào làm thơ khi ông là một nhà giáo. Một nghề cao cả mà ông đã định hướng và lựa chọn nó khi còn trẻ. Thế nhưng vì quá yêu thơ nên ông rất chung tình với nó. Năm 1970, ông cho in tập thơ đầu tiên mang tên “Đất nắng”.Sau một thời gian dài gặp biến cố lớn người nghệ sĩ ấy buộc phải sống âm thầm lặng lẽ với thơ. Phải 18 năm sau, ông mới quay trở lại trình làng tập “Ngựa Biển”,gây chú ý đọc giả và giới phê bình với nhiều điểm mới mẻ. Một thời gian dài với những trải nghiệm về cuộc sống, một hành trình đi tìm bản thể. Năm 1994, tập thơ “Người đi tìm mặt ”thể hiện rất rõ những cảm xúc đầy suy tư trăn trở về cuộc đời và thơ. Nhà thơ Hoàng Cầm đã từng nhận xét về tập thơ này trong bài viết “ Hoàng Hưng đi tìm mặt ”:

“ Hoàng Hưng đã đi đến tận cùng một tính cách rõ rệt trong thơ. Nỗi quằn quại của đời anh, ngòi bút anh đang nói với chúng ta đôi điều mới mẽ về số phận con người. Anh còn phải tiếp tục đi nữa, hoàn chỉnh nhân cách thi sĩ….” [13]                                   Tiêu đề “Người đi tìm mặt” trên thực tế đã đi vào tâm trí nhiều độc giả và điều này có lí do của nó. “Người đi tìm mặt” lấy chất liệu chủ đạo từ kinh phật. Nên tập thơ chứa đựng rất nhiều triết lí nhân sinh. Bản thân tiêu đề ấy cũng mang chứa một hình ảnh biểu trưng: Mặt – đó là cái “Tôi” sâu kín đã bóc trần ra một phần. Dụng ý của tác giả khi ứng với cái tên của tập thơ “Người đi tìm mặt” là bài thơ duy nhất cũng có tên Người đi tìm mặt. Cụ thể ở bài thơ “ Người đi tìm mặt”, nhà thơ bộc lộ rõ cái tôi đi tìm bản thể của mình. Với chủ thể là “ Ta”( bản ngã) đi tìm mặt mình để thấy cái tôi ở nhiều phương diện. Bài thơ chứa đựng nhiều lớp ý nghĩa từ vi mô đến vĩ mô. Trong cái “Ta” chung ấy chứa đựng nhiều cái “Tôi” khác nhau. Nhà thơ sử dụng nhiều dòng chữ: “Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình” nhằm diễn đạt sự vô hạn trong hành trình đi tìm kiếm bản thể của con người. Đi tìm mặt mình, với ông, còn là để truy tìm ý nghĩa của đời sống cá nhân mà trong một nghịch cảnh số phận, đã cho nhà thơ trải nghiệm đến đáy sự bi đát của nó. Đồng thời, đi tìm mặt mình cũng là để ông tìm kiếm câu trả lời cho những băn khoăn nhân sinh, thế sự ở đời mà càng gập ghềnh trắc trở, càng trở nên quyết liệt và bền bỉ:

Đêm xuống rồi

                                                Ta lẻn      

                                                Đi tìm mặt mình

                                Đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình…

               Mặt tôi trong gió cuốn

     Mặt tôi trong nắng đốt

   Mặt tôi trong lá ngón

     Mặt tôi còi vọng cô liêu

   Mặt tôi bàn tay ôm ấp

 Mặt tôi đá núi im lìm

                                   Mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm mặt mình đi tìm(…)

(Người đi tìm mặt – Hoàng Hưng)

Với bản thân Hoàng Hưng, cái tôi ấy ở giữa cuộc đời là đối diện với nhiều sóng gió, va chạm, tinh thần được mài giũa để trở nên mạnh mẽ gan lì, bản lĩnh hơn. Nhưng không vì thế mà biến tâm hồn người nghệ sĩ ấy trở nên chai lì, vô cảm. Điều này đã được minh chứng trong bài thơ “Mưa đêm” nằm trong tập thơ “ Người đi tìm mặt”:

 Dạo ấy ba mươi ta là thi sĩ

      Bây giờ thèm khát một câu thơ

     Khi đời sống làm mình hóa đá

      Bỗng rùng mình vì một hạt mưa

( Mưa đêm – Hoàng Hưng)

Người thi sĩ ấy, đã phải đối diện với biết bao khó khăn từ cuộc sống, ngỡ làm tâm hồn hóa đá. Nhưng trải qua thăng trầm của thời gian ông vẫn luôn thèm khát thơ với những rung cảm tinh tế nhất. Rõ ràng, con đường kiếm tìm bản thể của Hoàng Hưng là hành trình đầy đam mê và quyết liệt với thơ chưa có hồi kết. Sau này ông tiếp tục cho ra mắt tập thơ “Hành trình”in năm 2005, được trao giải thưởng thơ của Hội Nhà Văn Hà Nội năm 2006. Khẳng định một lần nữa con đường  sáng tác thơ ông chính là hành trình đi tìm “ bản thể”. Một bản thể luôn khát khao được sống và giành tình yêu hết mình cho thơ.

Còn Inrasara là một nhà thơ gốc Chăm nên hành trình sáng tác của ông khởi nguồn là cái tôi mang bản sắc Chăm. Cái tôi bản thể ấy rất trung thành dân tộc của mình. Ông đã có nhiều công trình có giá trị lưu giữ, giới thiệu ngôn ngữ và văn hóa Chăm. Sau này bản thể ấy là hành trình khám phá, hòa nhập cùng cái mới với cảm thức hậu hiện đại. Bản thể Inrasara đã được công nhận bằng các giải thưởng lớn ở trong nước và cả khu vực. Hiện nay, Inrasara vừa là nhà phê bình nghiên cứu vừa sáng thơ hậu hiện đại rất thành công. Theo nghệ sĩ, sáng tác thơ khởi đầu chập chững là những lời tinh khôi. Người làm thơ phải khởi phát từ một tâm hồn trong sáng. Có một tâm hồn trong sáng người nghệ sĩ sẽ dệt nên được những vần thơ hay và đẹp cho đời. Inrasara đã chứng minh sự nỗ lực không mệt mỏi trong việc làm mới mình, mới trong tư duy biểu đạt, mới ở đề tài và sự lựa chọn ngôn ngữ. Chính vì vậy, mỗi lời thơ thoát thai phải là những lời tinh khôi:

                                Khép một cõi đất, mở một chân trời

                                          thơ chập chững ngày mới

                              bập bẹ lời tinh khôi

(Những ý tưởng không mùa – Inrasara)

 

Trước hết với địa vị là một nhà thơ, Inrasara xác định rõ vai trò của người sáng tác và trách nhiệm của họ với dân tộc, với cuộc đời. Ông  luôn day dứt, lo lắng trước tình trạng những ngôn ngữ chết trong thơ. Bởi thơ ca là nghệ thuật của ngôn từ. Do vậy, với vai trò là một người sáng tạo chân chính, Inrasara đặc biệt chú trọng đến việc trau dồi ngôn ngữ và phải tận tâm, tận lực cho nó. Ngôn ngữ vốn là chất liệu luôn có sẳn cho nhà thơ sáng tác nhưng để tạo được những vần thơ hay, có giá trị không phải là việc làm đơn giản. Theo như lời nghệ sĩ thì để có được vài lời thơ, ông phải chưng cất, hứng những vị tinh túy nhất lấy từ trong đống chữ của dân tộc. Sáng tạo nghệ thuật ấy là một quá trình gian khổ, đồi hỏi người nghệ sĩ phải có tư duy nhạy bén và bỏ nhiều công sức mới mong có được thành quả tốt :

     Tôi đốt lên hàng đống chữ dưới tàn tro

                                bươi lấy vài lời

(Những ý tưởng không mùa – Inrasara )

Cũng chính vì quan điểm sáng tác ấy mà Inrasara không chấp nhận sự lặp lại đơn điệu người khác, thậm chí là lặp lại chính mình, khuôn mình trong cái vỏ ốc chật chội:

Con ốc đội vỏ suốt dặm dài

                              Yên tâm với ngôi nhà vay mượn

                              Trong chật chội

(Thi sĩ- Inrasara)

Người nghệ sĩ muốn viết hay, viết đúng thì ngoài tài năng thiên phú còn cần cả một quá trình rèn luyện và trau dồi kinh nghiệm để có một vốn sống phong phú, một sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời. Do vậy, trong hành trình sáng tạo để khẳng định bản thể riêng của mình, nhà thơ cũng đã tự vấn mình bằng những lời đầy mỉa mai. Tự chế giễu mình cũng là một cách nhà thơ muốn mình cần cố gắng không ngừng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.

Như vậy, khảo sát thơ Hoàng Hưng và Inrasara trên hành trình sáng tác và cách tân theo hướng hậu hiện đai. Chúng ta nhận thấy rằng, dù xuất phát điểm không giống nhau, hoàn cảnh sống không giống nhau nhưng cả hai nhà thơ đều cho thấy ở họ là những tâm hồn nghệ sĩ lớn. Những bản thể mang cá tính rất riêng luôn phấn đấu không ngừng cho nghệ thuật. Họ luôn khát khao được sáng tạo và cống hiến những cái hay, cái mới cho thi ca nước nhà.

             2.2.3. Cái tôi “phi tôi”

Con người từ khi ra đời đã tồn tại cái tôi. Trong triết học, “cái tôi” được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.

Cái tôi trữ tình trong thơ hậu hiện đại bên cạnh thể hiện cái tôi cá nhân còn có cái tôi (phi tôi).Nếu cái tôi bản ngã là kết quả của một diễn trình cảm xúc cá nhân thì cái tôi đa ngã lại trình hiện theo kiểu con người trong con người. Trong con người có nhiều con người cùng hiện diện hay trong cái tôi lớn có nhiều mảnh tôi cùng tồn tại. Chúng không thống nhất mà thường xuyên xung khắc, mâu thuẫn nhau. Trong phân tâm học, “cái tôi” là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Theo Sigmund Freud, “cái tôi” cùng với “nó” và “cái siêu tôi” là ba miền của tâm thức. “Cái tôi” được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, “cái tôi” học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. “Cái tôi” có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội. Đặc điểm này dẫn đến cái tôi trong thơ hậu hiện đại một mặt ý thức sâu sắc về bản thể, mặt khác lại phủ nhận nó, tin tưởng rồi lại bất an, hoài nghi; là cái tôi ý thức lại cũng là cái tôi của tiềm thức, vô thức; cái tôi tự nhân đôi khẳng định mình rồi lại tự phân mảnh phủ định mình.

Nhà thơ Inrasara, cũng đã hoài nghi về bản thân mình bằng những hình ảnh phân thân trong bài “ Chuyện tôi”:

Tôi đang            làm gì   là gì

                                         nhà thơ             nhà nghiên cứu nhà kinh

                                         doanh hay miếng giẻ rách. Kiếp trước

                                         chắc chắn tôi là chim     kiếp sau

                                        làm loài ếch                  có lẽ                  kêu ồm

                                         ộp ngoài                                   mưa

(Chuyện tôi- Inrasara)

Chủ thể trữ tình đặt ra câu hỏi mình là ai? là nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh hay có thể chẳng là ai cả, tồn tại như một miếng giẻ rách tầm thường. Phải chăng con người sống trong thời đại mới là con người ẩn mình dưới nhiều mặt nạ khác nhau. Con người không tự định hình cho mình một tính cách cụ thể, con người bị tẩy trắng. Và phải chăng nếu người nghệ sĩ không khẳng định được cái tôi điển hình thì họ sẽ thất bại như chính loài ếch với tiếng mưa buồn. Bài thơ có những khoảng trắng, khoảng trống như hình ảnh phân thân của chủ thể trữ tình. Cũng là một cách để tác giả nhường cho đọc giả có những cách cảm nhận riêng.

Nhà thơ Hoàng Hưng lại cho chúng ta thấy một cái tôi phân thân rất lạ ở trong bài “Người điên 1”.Bài thơ khiến người đọc giật mình bởi đâu đó trong hành trình người điên kia thấp thoáng bóng dáng của chính bản thân mình. Nhà thơ đặt ra vấn đề: Liệu sống giữa một thế giới xô bồ, bão loạn, con người chúng ta luôn giữ được cho mình tâm thế tĩnh táo. Người điên với tâm hồn vô hồn, vô cảm cứ bước đi “nghìn bước” giữa đời và rồi sẽ thế nào khi dừng lại?

             “Anh cứ đi chầm chậm giữa đường/ Cái mặt không tuổi/Tấm thân không thời tiết/Hai mắt để ngỏ một căn phòng trống không/Anh cứ đi nghìn bước như nhau/Quên ngay từng bước vừa đi/Không biết chỗ bàn chân đặt tới/Anh cứ vừa đi vừa bấm đốt/Và chỉ đếm đến một/Thủa nhỏ chúng tôi cười chạy sau lưng anh/Lớn lên bóng anh tắt những cơn vui/Và an ủi những giờ thất vọng/Rồi anh trở thành người quen thuộc/Một hôm tôi bắt gặp tôi/lẩm bẩm giữa đông người”

(Người điên – Hoàng Hưng)

Quả thực đây là một hình tượng gợi nhiều suy ngẫm. Sự cô độc của người điên giữa phố xá được ngầm ví với sự cô độc của con người trong cuộc kiếm tìm những giá trị trên cõi đời này. Sự điên rồ của một người điên và sự “điên rồ” của nhà thơ, khoảng cách ấy có xa nhau không? Hay chính trong sự “điên rồ” ấy đã hé lộ một sự hiền minh mà người đời xô bồ không thể nhận thấy? Chi tiết nhà thơ “bắt gặp”chính mình “lẩm bẩm giữa đông người”ở phần kết thúc bài thơ tự nó nói lên nhiều điều. Chi tiết bất ngờ ấy sâu xa hơn, nó là một sự nhận thức thân phận, ám gợi “một trạng thái bi kịch” của đời sống. Cái tôi phân thân ấy thể hiện khao khát khẳng định tiếng nói cá nhân trong những biểu hiện chân thực và sâu kín nhất của siêu cái tôi đã sớm trở thành cái đích tìm kiếm của Hoàng Hưng trên hành trình sáng tạo.

Những dư chấn thời đại hay những thương tổn tinh thần khiến con người rơi vào khủng hoảng. Họ luôn tự tra vấn, tự đào sâu vào bên trong, đối thoại, soi chiếu, không ngừng tranh đấu với mình. Quan niệm về thực tại ấy, cũng là sản phẩm của xã hội ấy tạo ra, cái tôi chứa nhiều cái tôi trong thơ hậu hiện đại, là kiểu “con người trong con người” đầy phức tạp. Và nếu con người hiện đại bằng niềm tin họ cho rằng mình có thể sắp xếp, thiết lập lại cái thế giới vỡ vụn, phi lý hay có thể đi tìm thế giới khác, thuần khiết và hoàn mỹ hơn thì con người hậu hiện đại lại cho rằng việc làm điều đó chỉ là vô nghĩa. Bởi thế giới chỉ là không gian đa chiều và sự tương tác với ý thức con người là hoàn toàn ngẫu nhiên nên thực tại cũng trở nên bất định, hỗn độn không dễ nắm bắt. Do vậy kiểu cái tôi phi tôi hay con người tồn tại trong nhiều con người là một dạng thái xuất hiện trong cảm quan của thơ hậu hiện đại.

 

 

 

 

 

Tiểu kết

Qua khảo sát thơ hậu hiện đại của Hoàng Hưng và Inrasara, chúng ta thấy mỗi nhà thơ là một tư duy thơ riêng biệt, độc đáo, khẳng định được cá tính sáng tạo của họ trên hành trình cách tân thơ ca Việt. Dấu ấn hậu hiện đại lưu vào trong các trang thơ của họ biểu hiện trước tiên qua cách cảm nhận về thế giới mới, cảm quan mới( cảm quan hậu hiện đại). Khác với các nhà văn hiện đại luôn hướng tới những đại tự sự, những hiện thực vĩ đại lớn lao, phổ quát, những câu chuyện vĩ đại mang tính toàn nhân loại. Cảm quan hậu hiện đại được thể hiện trong thơ họ là những câu chuyện nhỏ mang tính địa phương, những câu chuyện đời thường , phản ánh một hiện thực nham nhở, trầy xước,  những bức tranh gồ ghề, xù xì của hiện thực. Họ cũng không hề có ý định lắp ghép, hàn gắn lại hiện thực mà hướng đến cái thế giới hỗn loạn, lắp ghép, phân mảnh, đứt đoạn…Hai nhà thơ từ bỏ cái thế giới đóng khung hướng tới tinh thần sáng tạo tự do. Chủ thể trữ tình được thể hiện ở nhiều khía cạnh: cái tôi hoài nghi với thực tại, cái tôi truy tìm bản thể, cái tôi phi cái tôi với cảm thức cô đơn hoài nghi với thực tại. Cá tính thơ và phong cách thơ đặc trưng của họ rất được trân trọng trong xu thế đổi mới và phát triển nền thơ ca dân tộc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 3

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ HOÀNG HƯNG

VÀ INRASARA NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT

             3.1. Sự mở rộng biên độ thể loại

Không ai có thể phủ nhận những thành công của nền nghệ thuật hậu hiện đại. Nó đã tạo ra một sân chơi mà ở đó các nghệ sỹ được thoả sức thể nghiệm những ý tưởng của mình. Một sàn diễn không phân biệt cao thấp, sang hèn, quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở đó, mỗi người có thể tự tạo những ý tưởng của riêng mình, tự chọn chất liệu, tông màu, tự thiết kế những tác phẩm nghệ thuật, và tự biểu diễn. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã làm cho bức tranh nghệ thuật đa dạng và đầy ắp những thử nghiệm, cách tân táo bạo. Nền thơ ca hiện đại Việt Nam đang cho thấy những thay đổi mới. Không bảo thủ, dù có chậm nhưng luôn có ý thức học hỏi, tiếp nhận những cái hay cái đẹp từ thế giới bên ngoài.

Hành trình sáng tạo thơ của Hoàng Hưng và Inrasara là những nỗ lực cách tân không ngừng. Mỗi người có một cá tính riêng làm nên phong cách riêng. Đến với thơ hậu hiện đại, hai ông có sự gặp gỡ nhau trong việc thể hiện cảm quan mới về thế giới(cảm quan hậu hiện đại). Xét về việc vận dụng những thủ pháp nghệ thuật cũng như lựa chọn hình thức biểu hiện hậu hiện đại thì phải khẳng định rằng Inrasara vượt trội hơn. Thơ Hoàng Hưng và Inrasara đều có sự nới rộng về biên độ của thể loại, nghĩa là thi pháp thể hiện hình thức của thể loại thơ truyền thống đã có sự biến đổi. Không còn đóng khung trong khuôn khổ về vần điệu, cách ngắt nhịp, số chữ, số dòng. Ngoài việc sử dụng thể thơ tự do, thơ Tân hình thức và thơ văn xuôi đã được họ lựa chọn để sáng tác theo hướng hậu hiện đại. Tuy nhiên thế giới thơ mỗi người là những góc phản chiếu đậm nhạt khác nhau, những vênh lệch như một sự tất yếu.

3.1.1. Thơ tân hình thức

Thơ Tân hình thức vốn đã không còn xa lạ ở Việt Nam. Thể loại thơ không vần, ứng dụng những kỹ thuật cơ bản như vắt dòng, kỹ thuật lặp lại, tính truyện và ngôn ngữ đời thường thông tục, có khi chứa đựng cả yếu tố tục trong sinh hoạt của đời sống hằng ngày. Nó mang tính cụ thể nên dễ hiểu, dễ đi vào lòng người yêu thơ. Nhịp điệu cũng hoàn toàn khác với các quy phạm của thơ cổ điển.

Thơ Tân hình thức đã và đang được bàn đến ở nhiều diễn đàn văn học và các cuộc hội thảo, báo chí. Tác giả Đỗ Quyên trong bài “Tân hình thức Việt kể sao hết được…”đã tóm tắt năm đặc điểm của thơ Tân hình thức Việt rất cụ thể:

“Năm nội dung thi pháp Tân hình thức Việt: 1- Đặc trưng thể loại: Không vần, nhịp điệu khác hoàn toàn thơ bình thường; 2- Hai kỹ thuật tiên quyết: vắt dòng, tức xuống dòng theo số chữ (nói chung 5 đến 8 chữ), và lặp lại; 3- Tứ thơ theo một “chuyện” nào đó, tức có tính truyện; 4- Ngôn ngữ: đời thường, thông tục; không biện pháp tu từ; 5- Chất liệu: cuộc sống thường nhật.” [57]

Vậy thơ Tân hình thức được phân định như thế nào với thể thơ tự do và thơ văn xuôi? Vấn đề này được Hữu Đạt giải thích như sau: “Đứng trên phương diện ngôn ngữ thì thơ văn xuôi là đỉnh cao nhất của thơ tự do… So với các thể thơ trước nó, thơ văn xuôi có nhiều ưu điểm là diễn tả được cùng một lúc những cảm xúc trùng điệp, những hình ảnh, những ý thơ liên tiếp”.[47] Do đó, theo ông cả thơ văn xuôi và tân hình thức đều có những điểm giống nhau như trên và đều là thơ không vần nhưng điểm khác cở bản được Hữu Đạt chỉ ra đó là: “Tân hình thức, ngôn ngữ “ngồi bệt xuống cỏ”, không hình tượng cầu kỳ, càng ít sướt mướt càng quý và chỉ là chuỗi lời kể chân chất.”[47]

Nguyễn Văn Dân, trong bài: “Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí Văn học nước ngoài số 8/2012. Ông đã bày tỏ quan điểm về thơ Tân hình thức rằng:

“Về cú pháp, so với thơ tự do nói chung và với thơ văn xuôi nói riêng, cách tân mãnh liệt của Tân hình thức Việt là triệt tiêu ý niệm câu thơ” [14]

Khế Iêm cũng đã có lập ngôn về sự ra đời và vai trò của thơ Tân hình thức Việt như sau:

“Thơ tự do, sau một thế kỷ đã cạn nguồn và cùng kiệt (…) Tân hình thức như một thời lãng mạn mới, một trật tự mới hay một nền ca dao mới trong một xã hội bình đẳng và dân chủ, lôi cuốn người đọc, làm phong phú đời sống và ngôn ngữ tự nhiên”.[65]

Qua đó để thấy rằng Tân hình thức với những điểm giống và khác so với các thể thơ thời hiện đại như thơ tự do và thơ văn xuôi, đã và đang góp phần làm phong phú cho nền thơ ca Việt Nam đương đại. Yếu tố kĩ thuật vắt dòng và lặp lại rất đặc trưng của thơ Tân hình thức là một sự thú vị của nó nên đã được nhiều nhà thơ nổi tiếng thể nghiệm rất thành công. Ví như nhà thơ Chế Lan Viên, trưởng thành trong phong trào thơ Mới với bài “Tập qua hàng” cho thấy kỉ thuật vắt dòng rất rõ. Bài thơ nhờ vậy đã tạo được nhiều cảm xúc cho người đọc.

Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ

       Trở về. Nắng sớm cũng mong. Cây

            Cũng ngóng. Ngõ cũng chờ. Và bướm

      Cũng thay màu đôi cánh đang bay

( Tập qua hàng- Chế Lan Viên)

Tuy vậy, thơ Tân hình thức không chủ trương làm một cuộc cách mạng thi ca như thơ Mới mà chỉ đề xuất một phương cách sáng tác mới. Vậy nên Tân hình thức được vận dụng trong sáng tác thơ Hậu hiện đại không mang tính điển hình. Mà theo như ý kiến đánh giá của giáo sư Bửu Ý: “Thơ Tân hình thức ra đời trong tư thế là một tiếng nói mới, một cảm xúc mới trước cuộc sống hôm nay. Nó không truất phế Thơ Tự do và nó cũng không chờ đợi thơ nói chung rơi vào khủng hoảng. Nó vẫn chung sống hòa bình với những dòng thơ khác nhưng phải đối đầu với nhiều thách thức”. [61]

Trong tập tiểu luận “Thơ tân hình thức Việt – Tiếp nhận & Sáng tạo”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, một trong những nhà phê bình có kiến văn sâu rộng nhất hiện nay đã có những nhận định rằng: “Có thể rồi đây, thơ hậu hiện đại Việt Nam sẽ chọn được cho mình một thể thơ khác phù hợp hơn và do đó, thành công hơn. Nhưng với tư cách là một thể thơ mang tính hệ hình mở đầu cho trào lưu thơ Hậu hiện đại ở Việt Nam thì tân hình thức mãi mãi còn được nhắc đến và biết ơn.”[61]

Tất cả những vấn đề nêu trên lí giải tại sao thơ Tân hình thức đã được các nhà thơ hậu hiện đại vận dụng để thể hiện cảm quan mới trong sáng tác của mình. Tuy vậy, phong trào sử dụng hình thức thơ này chỉ sôi nổi trong vài ba năm giai đoạn (2001-2004), sau đó không khí trầm lắng hẳn đi. Một số nhà thơ cũng đã có những thể nghiệm về lối thơ này như : Bùi Giáng, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều….

Bùi Giáng với bài thơ “Mưa nguồn”,lấy chật liệu từ cuộc sống thường nhật, tứ thơ đơn giản chỉ là kể về câu chuyện gặp gỡ giữa người với người. Những hình ảnh của “ cây cối”, “ trời mây”, “ bờ nước” tạo nên một bức tranh gần gủi, thân thuộc với con người. sử dụng kĩ thuật vắt dòng đã tạo nên hiệu ứng   phá đi cách đọc dừng lại ở cuối dòng, người đọc bị thúc đẩy đi tìm lại phần đã mất của câu, nên tốc độ đọc nhanh hơn. Điều này gợi tới ý niệm thời gian và không gian trong bài thơ cũng là cách làm mới cho việc tiếp nhận của người đọc:

Xin chào nhau giữa lúc này

                               Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

                               Có trời mây xuống lân la

                               Bên bờ nước có bóng ta bên người

(Mưa nguồn – Bùi Giáng)

Inrasara cũng là nhà thơ cổ vũ hết sức nhiệt tình cho thơ Tân hình thức này. Minh chứng là ông có khá nhiều bài thơ sáng tác theo lối Tân hình thức.  Ông đặt tên một tập thơ: Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài tân hình thức. Nhưng nhà thơ không nhất nhất cổ xúy cho nó mà ông cũng đã khách quan nhận xét: “Nhìn một cách công bằng, tân hình thức – qua mười năm thử nghiệm – cũng đã bộc lộ mặt yếu của nó. Vần và lặp lại nguy cơ đưa thơ vào sự quẩn quanh, bí bức, nhàm chán; yếu tố tính truyện đã xô rất nhiều bài thơ trở thành lan man và nhảm; ngôn ngữ đời thường khiến không ít người làm thơ lạm dụng ngôn từ dung tục từ đó tầm thường hóa thơ. Độc giả dị ứng với tân hình thức đã đành, ngay những kẻ nhiệt tình với nó nhất cũng có vẻ nguội lạnh”.[51] Tuy vậy Inrasara không hoàn toàn nhìn nó một cách tiêu cực, nhà thơ vẫn sẽ dùng nó sáng tác của mình: “Tôi vẫn hi vọng tân hình thức sẽ tìm hướng đi mới cho mình, ở những ngày sắp tới”.

Tác giả Đỗ Quyên cũng đã có những diễn giải về thơ Tân hình thức “Lối thơ bình dị và thẳng làm cho cái tôi Tân hình thức trở nên khách quan, dễ tới độc giả đại chúng. Khi tác giả đã tự ý thức, nhân vật trữ tình cũng tự ý thức và tự hành xử lớp lớp các chi tiết, hành động mà không cần tác giả chỉ dẫn”.[57]

Vấn đề được nêu ra ở trên rất phù hợp cho việc thể hiện cảm quan hậu hiện đại. Chúng ta có thể so sánh và đối chiếu nó với bài thơ “Ăn chữ”của Inrasara. Bài thơ là một câu chuyện kể hết sức bình dị của chủ thể trữ tình. Tác giả đã tạo  sự tương tác với bạn đọc một cách gần gủi, thân mật. Thông tin vì thế cũng được lĩnh hội dễ dàng hơn, không cầu kì khó hiểu:

Tôi có thằng bạn mắc bệnh ăn

                         chữ. Không thứ gì khác hắn ăn

                         sáng trưa chiều hắn nhai ngấu nghiến

                         Vợ hắn khóc hai năm nay thôi

 

                         Hắn ăn đủ các thứ nặng nhẹ

                        Nietzsche Khổng đến Sagan tất

                        tần tật hắn ăn từ tốn chậm

                        rãi những con chữ. Thuở xà lỏn…

( Ăn chữ- Inrasara)

Thơ Tân hình thức biểu hiện rõ với kĩ thuật vắt dòng tự do và sự lặp lại đặc trưng, làm chữ nghĩa trong mỗi bài thơ như được chảy tràn qua từng dòng tạo thành mạch cảm xúc như được kéo dài ra triền miên. Qua bài thơ “ Sông Lu và tôi”, Inrasara kể câu chuyện về sông Lu gắn bó thiết thân với cuộc đời nhà thơ, Ông đã đem đến cho người đọc những trạng thái cảm xúc đời thường, những hình ảnh gần gủi thân thuộc khơi gợi về những miền kí ức của tuổi thơ. Bài thơ hiện lên như một bản nhạc đồng quê hiện tại ngân vang vẩy gọi về quá khứ. Nhà thơ gửi vào đó những cảm xúc lắng đọng làm thổn thức lòng người, những con người tuy sinh ra từ những miền đất khác:

 

                                                Tôi không cùng

hai mươi năm canh tác miền tha hương

trở lại quê nhà, mùa đã vãn

Đàn trâu tuổi thơ đi vắng

vương vãi những vụn nát, mốc ẩm, ruỗng mòn

những đường cày bỏ hoang vô cảm.

Tôi khốn cùng

với mùa vàng bội thu và bụi bặm

muốn thét nứt đôi thành tim đắng

Trong mòn chán của ngữ ngôn chúng ta

lá vẫn thức

mỗi sáng. Sau cái nhìn ngơ ngác trẻ non

mây vẫn lang thang qua ngọn đồi cũ mèm

và hát. Mặc những mô đất rũ đầu bất lực…

( Chuyện 4. Sông Lu và tôi – Inrasara)

Thơ Tân hình thức vì thế đã được Inrasara vận dụng rất nhiều trong tập “Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ Tân hình thức”. Việc vận dụng kĩ thuật trên đã tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật về sự chuyển tải cảm xúc trong những câu chuyện đời thường của nhà thơ.

“ Tôi đã làm khổ cô láng giềng niên/ khóa cuối trung học trước khi làm lang/ thang. Năm năm nàng chờ, thằng Wang nói/ mầy quá tệ làm nó khổ mầy ngủ/ ngon ăn khỏe còn nhăn răng cười như / khỉ…”

( Chuyện 13. Trẻ dại – Inrasara)

Có thể nói Tân hình thức với những lợi thế của nó đã phép Inrasara chuyển tải đến người đọc tất cả những cảm xúc đa dạng thường nhật về đời sống hôm nay. Ở hình thức thơ này, Inrasara đã cho thấy một tâm hồn thơ chân chất, mộc mạc của người con Chăm. Trong bài “Thư cho & của Phăng”,tân hình thức toát lên ở việc nhà thơ dùng ngôn ngữ rất đời thường, không trau chuốt, không hình tượng, cảm tưởng như chúng ta chứng kiến một cuộc trò chuyện hết sức tự nhiên, thân mật giữa những người bạn.“Chân thật – Hồn nhiên, một bản chất khác của thi ca cũng thuộc vào phong cách Tân hình thức Việt qua cái tôi trữ tình bằng lời nói trong sinh hoạt, nói nôm “có sao kể vậy người ơi”. Tính chân thật – hồn nhiên. Nó vừa là quan niệm về hiện thực (đối tượng) vừa là phong cách biểu đạt (phương pháp);”[57]

 

                                  Đẹp trai thì mầy đẹp rồi

                                  mầy trắng như Kinh ấy

                                  Giờ

                                  mầy lang bạt xó xỉnh nào của đời hả Phăng

                                  Vẽ xong Chân dung đồng một vụ

                                  rồi

                                  mầy chung thân luôn kẻ đồng một vụ…

                                                                  (Thư cho & của Phăng- Inrasara)

Qua đó, có thể khẳng định rằng việc vận dụng nhiều yếu tố của tân hình thức phối hợp với các thủ pháp như nghệ thuật dòng ý thức, cắt dán, lắp ghép và lựa chọn chúng một cách linh hoạt đầy ngẫu hứng, Inrasara đã khắc họa vào thơ mình một thế giới hỗn mang và phi hài hòa của nghệ thuật hậu hiện đại.

Khảo sát thơ Hoàng Hưng, cho thấy ông vận dụng thơ Tân hình thức nhiều ở lối kể chuyện trong thơ mang nhiều tâm tư chất chứa đầy nổi buồn sâu lắng. Qua những bài thơ như “Người yêu miệt biển”,“Chiếc lá bàng”…Có lẽ,  việc tìm đến thử nghiệm thơ Tân hình thức như là một nhu cầu thoát xác để chống lại sự bất lực của lối thơ quen thuộc trong việc biểu đạt đời sống bề sâu, những rung cảm mạnh mẽ và những tâm trạng vật lộn tối sáng trong lòng người. Với một tinh thần thường trực sáng tác là phải đi đôi với cách tân như Hoàng Hưng. Ông không cho phép túm lấy cái kết quả đã hoàn tất của quá trình vận động ý thức, những tình cảm, tư tưởng minh thị mà thay vào đó là sự nới rộng biên độ của chúng theo hướng đa chiều. Có thể dẫn dụ về một cách nhìn đầy tinh tế của nhà thơ trước hiện tượng tự nhiên để liên tưởng đến cuộc sống của con người.Bài thơ “Chiếc lá bàng”là một cái nhìn nhẹ nhàng về sự vận động của sự vật hiện tượng trong tự nhiênvà đời sống. Hoàng Hưng thể hiện thái độ điềm tĩnh ấy như là chất thiền của phật giáo. Chiếc là bàng ở trên cây được sinh ra từ mầm sống, phát triển rồi cũng đến lúc già nua lìa cành rụng xuống. Nhà thơ cho người đọc sự liên tưởng về kiếp nhân sinh của con người. Chiếc lá bàng già cỗi sẽ rụng hay không sau “khi gió bấc nổi”?Và nếu không thì nó sẽ vẫn tồn tại trên cây già yếu, xác xơ với một kiếp sống đọa đày. Tạo hóa vốn sinh ra không thể tránh khỏi kiếp sinh- tử. Nếu con người ý thức được điều đó thì tâm hồn sẽ được nhẹ nhàng hơn trước những biến cố cuộc đời:

                                               Những đôi mắt âm thầm

                                              Rõi qua khe cửa

                                              bao giờ rụng chiếc lá bàng cuối cùng?

 

                                              Sẽ rụng đêm nay

                                              khi gió bấc nổi

                                              Không. Nó sẽ còn đeo đẳng mãi trên cây

                                              dai như kiếp sống đọa đầy…

( Chiếc lá bàng- Hoàng Hưng)

Bài thơ “Người yêu miệt biển”cũng chứa những dòng chữ dài ngắn khác nhau như thơ tự do nhưng kết hợp với kĩ thuật vắt dòng cho phép nhà thơ thả mình tự do bay bổng, thăng hoa với những miền cảm xúc bất tận. Hoàng Hưng đưa chúng ta vào thế giới của chủ thể trữ tình và em. Trong không gian rợn ngợp của “Đồng cói đầy trăng”, rồi đến “Bãi dài ngập nắng”đột ngột lại trở về với“ chiều vụt tắt”đến với không gian của“cát và triều dâng”. Biết bao nhiêu cảm xúc đã được chuyển dịch theo không gian và thời gian. Cảm xúc ấy cứ thế kéo dài chảy tràn qua những câu vắt dòng không ngừng nghỉ. Đó là minh chứng điển hình của nghệ thuật hậu hiện đại, sáng tạo phá bỏ mọi giới hạn, không chịu gò bó trong khuôn khổ nhất định. Thơ Tân hình thức bởi thế đã phát huy tác dụng phục vụ có hiệu quả trong việc chuyển tải những cảm xúc, ý tưởng của người nghệ sĩ vào thơ:

                                            Đồng cói đầy trăng em ơi

                                            đồng cói

          Nhưng em đã bay đi như cánh vạc

      Để rợn vàng đồng cói trăng rơi

                                            Bãi dài ngập nắng em ơi

                                            bãi nắng                               

            Nhưng thịt da em ráng chiều vụt tắt

            Cát không màu khép dưới bàn chân.

 Triều dâng sóng trắng em ơi

                                            sóng nở                                                

        Nhưng đến trước ngực ta sóng vỡ

                                            Bọt tan sôi réo lòng chiều

( Người yêu miệt biển – Hoàng Hưng )

 

Thơ Tân hình thức Việt đã là một sự chọn lựa của nhiều nhà thơ sáng tác theo hướng hậu hiện đại nhưng mức độ lựa chọn thì không giống nhau. Cụ thể, khi quy chiếu thơ Hoàng Hưng và thơ Inrasara cho thấy Inrasara sử dụng thể thơ này nhiều và đa dạng hơn. Việc sử dụng nó ít hay nhiều phụ thuộc vào quan điểm, có thể là sở thích của từng người. Do vậy, thơ Tân hình thức tuy đã thu được nhiều thành tựu nhưng vẫn còn đó nhiều thử thách bên cạnh thơ “cổ truyền”, thơ nữ quyền luận, thơ thị giác đang cùng tồn tại  trong tiến trình đổi mới thi ca Việt Nam đương đại.

3.1.2.Thơ văn xuôi

           Thơ văn xuôi là hình thức thơ vượt thoát những trói buộc của thơ cách luật, giải phóng tới mức tối đa những cảm xúc dồn nén của chủ thể trữ tình. Từ đó giúp nhà thơ đối thoại rộng hơn với cuộc đời. Đặc điểm này làm cho thơ và văn xuôi được giao thoa, hỗ trợ cho nhau tạo nên một khả năng riêng mà các hình thức thơ trước đó không có được.

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm “Thơ văn xuôi” được nêu là “Một hình thức cơ bản của thơ được viết bằng văn xuôi. Thơ văn xuôi khác thơ tự do ở chỗ không phân dòng, không dùng hình thức dòng thơ làm đơn vị nhịp điệu, không có vần”. [17,tr. 217-218]

            Khi bàn về thơ văn xuôi, theo như lời của Lưu Khánh Thơ thì đó là:“Một thể thơ lưỡng tính giữa thơ trữ tình và văn xuôi tự sự, xuất hiện ở Việt Nam từ phong trào Thơ mới. Ra đời và phát triển đến nay đã gần một thế kỷ, tuy thành tựu không nhiều như các thể thơ khác vì nó “ít được phổ cập trong tâm lý người sáng tác cũng như người tiếp nhận”. Song thật sự thể thơ này cũng đã theo sát diễn trình của nền thơ dân tộc, có mặt trong từng bước chuyển hệ hình, thậm chí có những lúc nó còn đứng ở đầu sóng ngọn gió như với Tình già của Phan Khôi, những sáng tác thơ văn xuôi của Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh… Từ cuối TK XX đến nay, thơ văn xuôi Việt Nam đã thật sự khởi sắc. Nó đã đồng hành thường xuyên cùng những cây bút có khuynh hướng cách tân mạnh mẽ, trong đó bao gồm cả những thể nghiệm thuộc hệ hình sáng tác hậu hiện đại”. [40, tr.388] 

            Từ nhận xét, đánh giá trên cho thấy thơ văn xuôi được nhìn nhận là một xu hướng vận động tư nhiên của thơ ca. Sự ra đời của thể thơ văn xuôi được xem là một nhu cầu tất yếu gắn liền với nhu cầu giải phóng con người cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm một giọng điệu phức tạp, gai góc, nhiều suy tư và bộc lộ một cảm xúc ào ạt, mãnh liệt, giải phóng tối đa cảm xúc của chủ thể trữ tình. Thơ văn xuôi tự sự về cuộc sống và cuộc đời với những trăn trỡ và khát vọng đời thường. Do vậy, đây cũng là một thể tài thơ được Hoàng Hưng và Inrasara sử dụng trong sáng tác thơ mang dấu ấn hậu hiện đại của mình.

Ở bài thơ “Đường phố 3”của Hoàng Hưng, cho thấy sự biểu lộ cảm xúc như vỡ tràn của nhà thơ về một thế giới muôn hình vạn trạng. Bài thơ như một đoản khúc được vang lên từ mọi âm thanh và hình ảnh của đời sống hiện đại. Ở đó người nghệ sĩ làm thơ không còn là mơ mộng trong cung bậc cảm xúc dịu dàng, đẹp đẽ mà thơ thoái thai từ tinh thần căng thẳng đã được ngấm vào xương:

           “Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố nổ bùng đêm người đi như biển. Tiếng còi, lửa cháy. Anh dắt tay em chạy trên cỏ dại. Giấc mơ vô lý bàng hoàng. Đường phố mùi da thịt. Gió rùng mình hư vô thổi đến. Trăng sáng không tin được. Gái trai mới lớn đội mũ lông chim. Thiếu nữ mắt đờ cà phê quán chật khói thuốc im lìm. Bụi sáng. Xe điên.

Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố lồng trăm ngả. Ngã bảy ngả năm giành giật. Và chiều tràn ngập gió đê mê phần phật quần bay. Cánh nhạn khua rối mù cao ốc. Đèn lên đèn lên mời gọi hoang đường.

Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thơ thoát ra từ đốt xương căng thẳng. Vũ trụ hồi sinh rực rỡ. Gân chùng mỏi mệt hân hoan.”

                                                                ( Đường phố 3- Hoàng Hưng)

             Sử dụng thơ văn xuôi trong sáng tác cũng là một cách để Hoàng Hưng thể hiện hết cá tính sáng tạo của mình. Điều này được thể hiện rõ ở bài thơ “ Vụt hiện” trong tập “ Ngựa biển”. Hình thức bài thơ có kết cấu rất lạ, thoạt nhìn như một văn bản được liệt kê, thông báo các sự kiện, những vấn đề trong xã hội:

             “1. Biển hà hát. Tóc mướt. Vòng cong. Riu ríu ánh bàng bàng. Chấm chấm nở. Phanh phanh bay. Núm núm

  1. Dương tràn sức đặc động sấm nổ. Bấu cắn kiệt. Háp háp. Sắp tan sắp tan sắp tan. Cồn xa mờ láng váng chân mây. Chốt giật tung, xỏa tóc
  2. Chập chững thái dương, bật thình lình năm dây đầy hốc mắt. Đi trong nước đổ, lá đá, vũng bập bùng, gió máy, trán trân trân dây chằng mồng tơi thắt cổ. Hát trong vần vũ. Mưa chim…”

                                               ( Trích “ Vụt hiện”- Hoàng Hưng )

Xét về hình thức thì nhà thơ cho người đọc một cách tiếp nhận lạ trong thơ nhưng xét ở khía cạnh nội dung thì dường như sự pha tạp này phần nào làm hao mòn chất thơ vốn có của thể tài thơ truyền thống. Nhìn chung thơ văn xuôi khá kén người đọc nên thơ văn xuôi của Hoàng Hưng và Inrasara đều không nhiều. Inrasara có bốn bài ( Trà Ma Hani; Chấm phá Trà Viga; Tặng phẩm của dòng sông; Thượng đế lạc hậu), nhưng đều là những bài thơ giàu hình ảnh, giàu sức gợi mở và giàu tính triết lí.

“ Như bà mẹ vắt cạn bầu sữa dòng sông trầm mình nuôi lớn hai bờ cây. Cho mùa khô gió reo vào đường lá còn nghe vọng tiếng nói dòng sông. Hay khi ánh nắng soi cành xanh còn thấy động hình ảnh dòng sông gợn chảy. Hay khi trưa năng cháy ngã mình dưới tán cây anh nông dân còn được nhìn bóng dáng dòng sông”

                                                      ( Tặng phẩm dòng sông – Inrasara)

             Một đặc điểm chung gây ấn tượng trong thơ văn xuôi Inrasara là chất giọng đầy khỏe khoắn, những câu thơ thường dài nhưng giàu tính nhạc và nhịp điệu. Có những câu thơ rất dài không đoạn ngắt cũng là một nét đặc biệt gây cảm giác lạ cho người đọc. Những câu thơ có vẻ như rườm rà nhưng lại thể hiện đầy đủ, trọn vẹn tình cảm, tâm hồn và tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm vào trong thơ. “Em đồng nội lang thang sông suối bàn chân trần nhỏ bé em mưa núi nắng đồi lũ đồng bão cát bãi nắng phanrang cháy da cũng là em tuyết laval cắt thịt”

                                                                 ( Trà Ma Hani – Inrasara)

              Qua những phân tích trên cho thấy, thơ văn xuôi tuy không được sử dụng nhiều trong sáng tác của Hoàng Hưng và Inrasara nhưng phần nào đã thể hiện được cá tính sáng tạo riêng của họ. Thơ văn xuôi của họ đều giàu chất suy tưởng, giàu tính khơi gợi, tính bất ngờ và hàm chứa nhiều triết lí thâm thúy. Nếu thơ Hoàng Hưng bộc lộ cái nhìn đầy gai góc, đầy suy tư về thế giới thì ở thơ Inrasara lại cho thấy một cái nhìn nhẹ nhàng hơn, chất đời gắn với vùng miền quê hương ông hiện lên khá rõ. Đây cũng là một cách riêng để nhà thơ thể hiện những cảm xúc chân thành của một người con với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Có thể nói cùng với thơ tự do và thơ tân hình thức, thơ văn xuôi đã phần nào khắc lên được diện mạo riêng của mình. Tuy là một hình thức thơ khá kén người đọc nhưng nó cũng đã được nhiều nhà thơ sử dụng vào những thử nghiệm sáng tác của mình. Góp phần làm phong phú về mặt hình thức cho thơ Việt trong thời đại mới.

            Như vây, có thể nói muốn có một nền thơ ca tiến bộ và phát triển thì tự thân nó phải luôn tìm được sức mạnh trong nội tại. Hơn thế phải biết chấp nhận và dung dưỡng nhiều hướng tìm tòi, sáng tạo đa dạng của cá nhân nghệ sĩ. Nền thi ca hiện đại Việt Nam cũng vậy, không khắt khe mà luôn khơi gợi, khuyến khích mọi khả năng sáng tạo cho thơ. Hơn thế, thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa. Không phân biệt thơ của người làm thơ cư trú tại các trung tâm văn hóa lớn hay tỉnh lẻ, xóa bỏ mọi đường biên phân cách thơ của người dân tộc thiểu số hay đa số, thơ trong nước hay hải ngoại. Nghiên cứu khoa học luôn đòi hỏi tính khách quan. Do vậy, chúng tôi đặt hai nhà thơ Hoàng Hưng và Inrasara cạnh nhau để khảo sát thơ họ cũng nhằm mục đích thể hiện sự khách quan trong đánh giá, không phân biệt xuất thân cũng như hoàn cảnh sống của họ. Bởi giá trị của nghệ thuật không phải tìm kiếm ở đâu xa mà nằm ngay trong chính từng tác phẩm. Đấy mới là sự tôn vinh đúng nghĩa những giá trị đích thực của nghệ thuật. 

           Ở chương 3 này, chúng tôi sẽ tiếp tục làm sáng rõ dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara được biểu hiện ở phương diện nghệ thuật. Khảo sát ở kết cấu thơ, ngôn ngữ và giọng điệu. Qua đó tìm thấy sự tương đồng và vênh lệch trong thơ của mỗi người.       

           

3.2. Kết cấu thơ      

Một tác phẩm văn học là chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận được sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định của người sáng tác gọi là kết cấu. Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm văn học. Sách Từ điển văn học(bộ mới) định nghĩa: “Thuật ngữ chỉ sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật – tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài gọi là kết cấu. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng”.[45, tr.715] Theo sách Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu được quan niệm là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm”. [17, tr.131].

Từ đó có thể hiểu một cách đơn giản kết cấu là một yếu tố của hình thức, phương diện quan trọng đối với mọi tác phẩm văn học. Ứng với mỗi thể loại văn học có những đặc trưng kết cấu riêng. Kết cấu thơ đó là những nguyên tắc tổ chức hình tượng và ngôn từ nhằm chuyển tải cảm xúc của chủ thể trữ tình trong một bài thơ. Mỗi thời đại kết cấu thơ có những đặc trưng riêng. Thơ trung đại có những quy phạm chặt chẽ về niêm luật,  Đối với thơ hậu hiện đại, kết cấu thơ có nhiều dạng thể phức tạp. Khảo sát kết cấu thơ Hoàng Hưng và Inrasara có thể thấy kết cấu thơ rất lạ, độc đáo.

3.2.1. Kết cấu mảnh vỡ

Mảnh vỡ (fragmentation) là thuật ngữ được trừu xuất từ khái niệm “phi lựa chọn”, mà điểm xuất phát đầu tiên là “quan niệm coi văn bản nghệ thuật như một loại nghệ thuật cắt dán (collage) đặc biệt, mà về thực chất, không có khả năng biến hóa bản chất rời rạc, mảnh vụn của mình thành một chỉnh thể duy nhất” [2, tr.23]. Sau đó, Fokkema đã phát triển quan niệm này thành nguyên tắc nền tảng của việc tổ chức văn bản hậu hiện đại. Ông đưa ra thêm hai thủ pháp nữa: “ngắt đoạn và làm dư thừa. Tất cả những thủ pháp này gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm phá bỏ tính mạch lạc truyền thống của trần thuật” [9, tr.24]. Mảnh vỡ, với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu, đã xâm nhập vào tất cả các khuynh hướng sáng tác của văn học hậu hiện đại.  Mảnh vỡ là một trong những thủ pháp nghệ thuật của văn học hậu hiện đại.Là thuật ngữ được trừu xuất từ khái niệm “phi lựa chọn”, mà điểm xuất phát đầu tiên là “quan niệm coi văn bản nghệ thuậtnhư một loại nghệ thuật cắt dán nhưng, không có khảnăng biến hóa bản chất rời rạc, mảnh vụn của mình thành một chỉnh thể duy nhất”. [6, tr.23].  Được sự kế thứa nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Jakobson, I.Hassan và D.Lodge, Fokkema , văn học hậu hiện đại vận dụng nó và xem văn bản nghệ thuật có thể bị phá vỡ thông qua thao tác cắt dán, nhân bản, liệt kê…

Các nhà nghiên cứu về văn học hậu hiện đại ở Việt Nam đã tổng kết và biên tập cho ra ý kiến sau: “Những văn bản hậu hiện đại được tổ chức rất đặc biệt. Về cấu trúc, nó không còn kiểu cấu trúc tuyến tính thông thường, nó phá vỡ mọi trật tự, xáo tung mọi mạch lạc. Các cây bút hậu hiện đại không ưa những trục trung tâm mà thường tạo ra những cấu trúc phân mảnh.”. [2, tr.77].  

     Tạo ra phân mảnh ở hình tượng thơ và phân mảnh ở hình ảnh ngôn từ là một trong những cách thức để các nhà thơ hậu hiện đại thể hiện cảm quan của mình về một thế giới đổ nát, phân rã, không thể nối kết và họ cũng không có ý định hàn gắn lắp ghép, sắp xếp lại cho toàn vẹn biểu thị hoài nghi và bất lực với thực tại hỗn loạn ấy.

Khảo sát thơ Hoàng Hưng và Inrasara, chúng tôi nhận thấy dạng kết cấu này trong thơ Inrasara nhiều hơn so với thơ Hoàng Hưng. Trong thơ cổ điển thời trung đại, thơ phải tuân theo những quy pham chặt chẽ, ngôn ngữ mang tính ước lệ. Đến thơ hiện đại, thơ tự do phá bỏ rào cản quy ước niêm luật. Song còn tồn tại nhiều thể thơ khác nhau như thơ lục bát, thơ lục ngôn, thất ngôn. Đến với thơ hậu hiện đại, câu chữ trong bài thơ đã bị phá bỏ mọi giới hạn. Dòng chữ dài ngắn bất định, kết hợp thơ tân hình thức vắt dòng, lặp lại…vân dụng thủ pháp mảnh vỡ cho phép nhà thơ biến ngôn ngữ như trò chơi ném tuyết. Chúng ta có thể thấy rõ ngôn từ như bị làm vỡ vụn ra ở bài thơ  “ Chuyện 11. Chuyện tôi”,các dòng thơ, câu thơ được ngắt, vắt dòng một cách rất tự do. Nhìn thoáng qua, có thể nhầm tưởng là những sai sót trong trình bày, nhưng ẩn sâu dưới bề mặt thể loại là trò chơi kết cấu. Tung hê các ràng buộc thể loại ổn định, cũ kỹ của thơ ca trước đây, Inrasara để cho câu chữ được tự do dịch chuyển, tự do kết hợp trong một trật tự mới – trật tự của cảm xúc, của cảm quan hậu hiện đại. Hay ở bài “Ở nơi ấy, hảo hảo hảo”, “Sợ vô hình”  của Inrasara :

Như chưa hề có chuyện gì đã xảy ra

Tiền phong               Thanh niên               Tuổi trẻ

VTV1              HTV9                          VTV3

Bia nổ nhịp ba                     vắng ngắt

Ngàn chữ kí              vạn chữ kí                 vừa tung lên trời mù mịt

Hảo                hảo                 hảo

Mầy nghe lời đứa nào xúi giục                            tao bảo

Đuổi thẳng cổ lũ chúng ra khỏi trường

Camera                      dây thép gai             máy ảnh kĩ thuật số

( Ở nơi ấy, hảo hảo hảo – Inrasara)

Inrasara còn sử dụng sự phân cắt trong từng dòng thơ tạo nên những khoảng trống, khoảng trắng biểu thị cho những cảm xúc rời rạc, ngao ngán về thực tại xã hội hiện đại.  Inrasara còn cho thấy những mảnh vỡ vô hình trong không gian và thời gian ở bài “Sự vô hình”,những khối chữ như bị rã ra, phân mảnh, ngôn ngữ văn bản đã không còn tính liên kết mạch lạc mà thay vào đó là sự phân rời đứt đoạn. Tứ thơ diễn tả sự vô hình, là những điều mà con người khó có thể cảm nhận bằng các giác quan. Trên nền một văn bản rời rạc ấy, tác giả cho người đọc thấy nổi rõ từ “ im lặng” một sự liên tưởng đầy thú vị. Inrasara đã vận dụng một cách linh hoạt thủ mảnh vỡ tạo ra kết cấu phù hợp giữa nội dung và hình thức nhằm diễn đạt ý tứ thơ của mình:

                                                         khi tất cả                     im lặng

                 triệu triệu mảnh dọa nạt vô hình

                 ến và đi và đến và ở lại nhưng vẫn             vô hình

                 Anh thử rướn vòm họng để phát ra âm thanh lượt nữa

                  lượt nữa                      anh thử cân đong nặng                       nhẹ

                 vẫn                  không thể

                 khi anh em bè bạn kẻ lạ người quen anh                   im lặng

                 cả kẻ thù anh cũng                 im        lặng

                 niềm im lặng câm                              lặng

( Sự vô hình- Inrasara)

Nhìn nhận một cách khách quan, Inrasara cho thấy một tinh thần cách tân thơ khá toàn diện. Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ ông phản ánh sự vận dụng khá linh hoạt các thủ pháp mới, trong đó có thủ pháp kết cấu phân mảnh. Hoàng Hưng cách tân thơ chủ yếu về mặt ngôn ngữ còn việc vận dụng các thủ pháp của văn học hậu hiện đại còn hạn chế. Chúng tôi tìm kiếm và khảo sát thơ ông về phương diện kết cấu và nhận thấy bài thơ “ Mưa Bangkok” có kết cấu khá lạ và có sự phân mảnh:

Cô “gai”(1) gốc Hoa dỗ tôi vào trung tâm mỹ nghệ cắt cổ

Anh tuk – tuk(2) mặt đen toét cười chìa tờ rơi đầy hình gái mat-xa

                                                                                         béo núc

Pát poong Pát poong(3)

Nghe như tiếng rao bánh bao ngon

Tôi không hiểu nổi

Làm sao trên cái đống bầy hầy hai chân tôi đang dính

Lại mọc lên những cao ốc tráng lệ kia

Lại phóng đi xa lộ trên không vút tới cổng trời

Tôi làm sao hiểu nổi

Thành – phố – thiên – thần(4) toàn những người bán lẻ niềm vui

                                                                                           trần thế

Thailand – mỉm – cười(5)

Thigh Land – đùi – dài(6)

Lớp lớp thếp vàng trên mình Phật nằm Phật đứng

Một trăm lẻ tám quả chuông rộn rã lối vào chùa

Tôi ngẩn ngơ theo gót chân trần dưới lớp y vàng rực

Đi trong bùn đi trong mưa…

—————-

(1) Guide: hướng dẫn viên du lịch

(2) Xe động cơ ba bánh, phương tiện chở khách phổ thông ở Bangkok

(3) Tên khu ăn chơi nổi tiếng nhất Bangkok

(4) Bangkok tên tiếng Thái là Krongthep, nghĩa là “Thành phố của các thiên thần”

(5) Khẩu hiệu của ngành du lịch Thái Lan (Smiling Thailand)

(6) Những người công kích công nghiệp du lịch tình dục của Thái Lan sử dụng cách chơi chữ đồng âm khác nghĩa: Thigh Land, có nghĩa là “Xứ sở của bắp đùi”, phát âm giống Thailand (Xứ sở của người Thái)

Bài thơ mở đầu bằng ba câu thơ có phông chữ nhỏ hơn toàn bộ bài thơ. Kết cấu bài thơ không liền mạch, có những câu bị đứt đoạn, đặc biệt bài thơ được chú thích bởi rất nhiều từ lạ. Những con số gắn với những từ ngữ được chú thích phần bên dưới. Phần chú thích dưới bài thơ rất dài, các từ được giải thích rõ nghĩa giúp người đọc hiểu hơn ý tứ của bài thơ. Có thể nói đây cũng là biểu hiện một kiểu hình thức mới so với thơ hiện đại.

3.2.2. Kết cấu liên văn bản

Liên văn bản (intertextuality), cùng với phi tâm hóa (decentralization) là hai từ khóa cốt yếu của khuynh hướng giải cấu trúc (deconstruction), thuộc dòng chảy mạnh mẽ trong trào lưu hậu hiện đại vào khoảng sau thế kỷ XX. Nó gần như là một trong các cánh cửa mở ra bước ngoặt diễn giải lớn của thời đại, khi kiến tạo nên những nhận thức hoàn toàn mới mẻ về việc tồn tại và vận động của bản chất sự sống và sự thực hành ngôn ngữ. Liên văn bản (Intertextuality) là sự tồn tại và đối thoại của nhiều văn  bản trong một văn bản. Thuật ngữ này không chỉ được dùng để miêu tả đặc trưng sự tồn tại của văn học mà còn để xác định cảm quan về thế giới và bản thân con người đương đại, đó là cảm quan hậu hiện đại. Nền văn học Việt Nam trong thời kì hội nhập đã có cơ hội tiếp thu những thành tựu của nền văn học thế giới. Văn học hậu hiện đại xuất hiện mang theo nhiều khái niệm mới trong đó có cụm từ “Liên văn bản” đã và đang được bàn nhiều hiện nay. Trong Từ điển văn học (Bộ mới), Đỗ Đức Hiểu là người chấp bút viết mục Tính liên văn bản , ở đấy trình bày ngắn gọn những quan niệm khác nhau về khái niệm tính Liên văn bản. Sự xuất hiện của nó trong từ điển cho thấy, tính Liên văn bản đã có một vị thế nhất định trong từ vựng nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam hiện đại.

Từ khoảng năm 2005 trở lại đây, bắt đầu xuất hiện nhiều bài viết giới thiệu sâu và chi tiết lí thuyết Liên văn bản của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Nam, Nguyễn Minh Quân và một số bản dịch những nghiên cứu về lí thuyết này. Thực chất, “tính liên văn bản” đã tồn tại âm thầm trong đời sống văn học xưa nay, nó tồn tại như một ý thức sáng tạo (sáng tạo nghệ thuật và sáng tạo đời sống của con người). Theo một số quan niệm của triết học hậu hiện đại, từ bản chất đã được sinh ra giữa những vấn đề: “luôn chịu sự dẫn dụ, chi phối của bản năng liên đới; luôn tư duy trong trường ngôn ngữ và luôn phóng mình về phía trước (tương lai) bằng quá trình tự sáng tạo bản ngã. Điều này phần nào lý giải rằng năng lượng liên văn bản vốn là thực hữu phổ biến khi con người sáng tác nghệ thuật và hình thành cái tôi, cũng như khi xây dựng thế giới quan xung quanh” [61]

Trong văn học, liên văn bản được coi là một thủ pháp nghệ thuật  “sựtương tác giữa những dạng khác nhau của những diễn ngôn bên trong văn bản”.Xét về mặt hình thức thì đó là sự lắp ghép của nhiều thể loại trong cùng một văn bản. Xét về mặt nội dung là sự lồng ghép của nhiều câu chuyện khác nhau giữa văn bản hiện hành với các văn bản trước đó nhằm phục vụ ý đồ của tác giả.

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Trinh trong cuốn “Từ kí hiệu học đến thi pháp học”, Nxb Đà Nẵng, 1993, đã viết: “Một văn bản bao giờ cũng kế thừa những văn bản có trước và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhập vào nhau. Đó là tính Liên văn bản của mọi văn bản”. Ông giải thích thêm: “một tác phẩm văn học mang dấu ấn của sự kế thừa và của tính Liên văn bản rất rõ ở nhiều chỗ tác phẩm trước đó đã được tác giả sau này đọc, mô phỏng tham khảo hoặc vận dụng”.[41, tr.8] Hơn nữa, trong văn học có quy luật kế thừa và cách tân. Quy luật này cho phép người sáng tác kế thừa được những giá trị của thế hệ đi trước đồng thời có quyền làm mới để tạo cho văn học vừa mang tính cá thể vừa mang tính dân tộc. Với thế hệ các nhà thơ sáng tác hiện nay cũng vậy, dù tác phẩm của họ phản ánh những vấn đề thời sự nhưng sự tìm về với những giá trị xưa cũ và làm mới nó cũng rất đáng được trân trọng.

Có thể nói “ Liên văn bản” là vấn đề mới và khó đối với văn học Việt Nam. Việc vận dụng thủ pháp liên văn bản vào sáng tác đòi hỏi người nghệ sĩ phải có tự duy tốt nhưng cái khó hơn là người tiếp nhận phải có kiến thức sâu rộng, mới hiểu hết được ý đồ của tác giả gửi gắm vào tác phẩm. Khảo sát thơ Hoàng Hưng và Inrasara chúng tôi nhận thấy so với Hoàng Hưng, Inrasara sử dụng thủ pháp của văn học hậu hiện đại đậm đặc hơn, trong đó có tính liên văn bản.

Xét về gốc độ biểu hiện của hình thức thể loại, thì hiện nay tính liên văn bản được nhiều nhà thơ, nhà văn vận dụng khá nhiều. Trong đó có sự giao thoa,  sự phối hợp nhiều thể loại vào trong cùng một văn bản. Trong tác phẩm văn xuôi có yếu tố thơ hay trong tác phẩm thơ lại dùng thể thơ văn xuôi, như lời tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Hình thức liên văn bản này đều được Hoàng Hưng Và Inrasara sử dụng trong sáng tác của họ. Đó là sự kết hợp và giao thoa giữa thể văn xuôi vào thơ. Như đã trình bày ở trên, hai ông đã đưa thể thơ văn xuôi vào sáng tác của mình chuyển tải những cảm xúc và tư tưởng đầy mới mẻ. Những thể nghiệm mới ấy đã góp phần cho thấy ý thức cách tân thơ theo hướng hậu hiện đại của Hoàng Hưng và Inrasara là khá toàn diện.

Xét về tính liên bản có tính kế thừa, tức văn bản lồng ghép trong văn bản, thì ở thơ Inrasara, cho thấy sự vượt trội so với thơ của Hoàng Hưng. Inrasara vận dụng thủ pháp liên văn bản thể hiện rất rõ trong những tác phẩm như: (Thế giới trong ngày, Thời gian của một lời xin lỗi, Ở nơi ấy – hoả hảo hảo). Ở những bài thơ này, tác giả còn vận dụng nhiều thủ pháp khác như kết cấu phân mảnh, cắt dán điện ảnh làm cho chúng dung chứa rất nhiều thông tin. Thông tin của văn bạn nọ cài văn bản kia, thời gian và không gian được xâu chuỗi từ quá khứ đến hiện tại, tạo cảm giác thú vị cho người đọc. Đây cũng là một dạng thái biểu hiện mới lạ, độc đáo của thơ hậu hiện đại. Bởi thơ vốn không ôm chứa được nhiều thông tin như văn xuôi, ngôn ngữ thơ vì thế đòi hỏi tính hàm súc, đa nghĩa. Nhưng với thơ hậu hiện đại, mọi đặc trưng của thơ giường như bị phá vỡ, người nghệ sĩ tha hồ vùng vẫy với những cảm xúc của mình. Cụ thể ở bài “Thời gian của một lời xin lỗi”, một bài thơ chứa dung lượng khá dài, tác giả trích dẫn vào bài nhiều đoạn trích và đã được chú thích rõ ràng như sau: “Các chữ in nghiêng là phần copy từ báo Tuổi trẻ, 14-2-2008: “Úc chính thức xin lỗi người bản địa”. Bài thơ là thông điệp mà tác giả gửi tới đọc giả nói sự chậm trễ của chính quyền Úc trong việc giải quyết những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách cho người dân. Nhà thơ ám chỉ “thời gian cho một lời xin lỗi” là quá dài, các con số và các sự kiện được nêu ra và in nghiêng đã giúp chúng ta dễ tiếp nhận nội dung thông tin của bài thơ:

“Chúng tôi đặc biệt xin lỗi về hành động tách rời trẻ em bản địa ra khỏi gia đình, cộng đồng và đất nước họ. Vì nỗi đau đớn, niềm thống khổ và sự tổn thương của những thế hệ bị đánh cắp, con cháu họ và gia đình bị bỏ lại sau lưng, chúng tôi xin lỗi”.

hơn hai thế kỷ kể từ khi người da trắng đặt chân lên Úc

 

qua 11 năm                                                               của chần chừ và thoái thác

của toan tính đo đếm cân đong

cho

bốn phút của sáng 13-2

không có số lẻ                                                          của giây         thừa hay thiếu

….lời xin lỗi muộn màng này

đến mấy thế hệ của một thế hệ bị đánh cắp

không đưa ra khoản tiền bồi thường

nhưng

thủ tướng cam kết sẽ giảm thiểu tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tỉ lệ mù chữ và chết sớm ở người bản địa trong một thập niên tới. Chính phủ cũng có kế hoạch cải thiện nhà ở cho người bản địa, công nhận họ về mặt hiến pháp là những người làm chủ nguyên thủy của nước Úc”…

 

Inrasara đã thể hiện một khả năng chuyển tải thông tin vô cùng linh hoạt qua bài “Thế giới trong ngày”, một thế giới với những sự kiện nóng hổi, cảm giác người đọc như đang được cập nhật thông tin từ một kênh truyền hình tổng hợp tin tức thời sự thế giới. Một văn bản thơ lớn chứa nhiều văn bản nhỏ được liên kết với nhau thành một chuỗi các sự kiện khắp các châu lục. Sự hiện diện của nhiều con số, những danh từ riêng của các quốc gia, vùng lãnh thổ…Chỉ trong một bài thơ mà tất tần tật các vấn đề của các nước từ Hoa Kỳ, Bắc Hàn, Nga, Ấn Độ đến Việt Nam đều có mặt. Những câu chuyện đủ mọi lĩnh vực của đời sống, từ văn hóa thể thao, tình hình tranh chấp giữa các quốc gia, biểu tình, nạn đói, chết chốc và cả những câu chuyện hết sức đời thường như cô bạn viết email cho ai đó…Văn bản còn được đưa vào những câu tiếng Anh ở văn bản khác như :“You are the world/ What you are the world is ai biết được”, người đọc có thể bật cười vì sự khôi hài, dí dõm ở câu thơ này.

Tất cả hiện lên một cách sinh động, tác giả chuyển tải đến chúng ta về một thế giới muôn hình muôn vẻ, hỗn độn và không ngừng vận động:

            “Hơn 100.000 người tham gia tuần hành tại Tehran

                                646 đơn khiếu nại bầu cử & 7 người chết

                                20 năm trước

                      4 ngàn 12 ngàn hay 30 ngàn tù nhân bị sát hại ai còn nhớ

                               Hoa Kì sẵn sàng chơi lại Bắc Hàn tới bến

                       Salman Rushdie cặp kè người tình mới đáng tuổi con mình

Tàu chiến Nga vừa cặp bến Đà Nẵng và Ấn Độ vừa thử thành                                     công lần hai hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân đất đối không

            …………………………………..

You are the world. What you are the world is.”

( Thế giới trong ngày- Inrasara)

Qua đó, chúng ta thấy Inrasara có nguồn năng lượng dồi dào với tư duy đầy mới mẻ trong sáng tác. Khả năng ôm chứa tri thức, cập nhật thông tin thời đại và vận dụng những thủ pháp mới vào sáng tác ở nhà thơ này thật đáng nể phục. Đặt cạnh thơ Inrasara, chúng tôi nhận thấy tính liên văn bản trong thơ Hoàng Hưng không nhiều và khó để nhận biết. Tuy vậy với ý thức cách tân bền bỉ, Hoàng Hưng đã tạo nên một cách nói nghệ thuật riêng, khác biệt. Hiện diện trong thơ ông là những biểu tượng phong phú. Ấy là kết quả của một cách nhìn, một cách tư duy độc đáo về thế giới đồng thời cũng là một trải nghiệm tinh thần đầy chất thơ.

 

      3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu  

Ngôn ngữ là chất liệu chung để người nghệ sĩ tạo ra những tác phẩm văn chương. Việc sử dụng chất liệu ấy để tạo ra tiếng nói riêng được gọi đó là giọng điệu. Ngôn ngữ thơ có một số đặc điểm chính như: Tính hàm súc- Tính đa nghĩa-Tính biểu cảm – Tính hình tượng – Tính mới lạ  – Tính nhạc.

Ngôn ngữ là chất liệu để người nghệ sĩ làm nên tác phẩm, Ở trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara ngôn ngữ được biến hóa theo những màu sắc khác nhau. Chính ngôn ngữ tạo nên giọng điệu riêng là dấu hiệu quan trong khẳng định phong cách sáng tác mỗi người.

Giọng điệu là âm hưởng chung toát lên từ toàn bộ tác phẩm nghệ thuật. Nó là hình thức bộc lộ rõ rệt nhất chủ quan người nghệ sĩ. Toàn bộ cách cảm, cách nhìn, phương pháp tư duy, kiểu nhận thức thế giới, tình cảm, thái độ, lập trường, quan điểm, đạo đức của nhà văn được thể hiện đậm nét qua giọng điệu, tạo nên giọng nói riêng, phong cách riêng, mang dấu ấn của cá tính sáng tạo, không thể bắt chước hoặc thay thế. Vì vậy mà giọng điệu văn chương còn có ý nghĩa như một tiêu chí để xác định chân tài của nhà văn.

     3.3.1. Ngôn ngữ lạ hóa

Ngôn ngữ là tài sản chung của con người. Trong tác phẩm văn chương  ngôn ngữ mang những giá trị khác nhau tùy thuộc vào tài nghệ của người sáng tác. Thơ là thể loại rất chú trọng biểu hiện về mặt ngôn ngữ. Khác với thơ ca trung đại, tư duy thơ hiện đại thoát khỏi vỏ bọc của ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng. Cũng không còn mang tính chất trang trọng, sử thi của thơ ca cách mạng. Mỗi nhà thơ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật luôn xác lập cho mình một phong cách riêng. Trong cuốn Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học của Phan Ngọc có viết:  “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”[35, tr.132]

Việc làm mới ngôn ngữ tạo nên sự lạ hóa cùng với việc tung hứng ngôn ngữ như trò chơi cũng là tư duy mới của các nhà thơ hậu hiện đại. Hoàng Hưng trong cách tân, đổi mới thơ ca thể hiện rõ nhất ở phương diện ngôn ngữ. Ngôn từ tự thân nó đã được mã hóa để mang ý nghĩa nhất định. Nhà thơ làm lạ hóa ngôn từ bằng cách thiết lập mối quan hệ giữa các con chữ để tạo thành nghĩa cho câu thơ. Trong bài thơ “Xa lộ thông tin”,ông đã làm lạ hóa ngôn ngữ như sau:

…Vào xa lộ

Ta tìm ta

 Rừng chữ

      Ta thấy ta rồi..

( Xa lộ thông tin – Hoàng Hưng)

Có lẽ đây là lần đầu tiên chúng ta bắt gặp từ “ rừng chữ”. Bản thân từ Rừng biểu thị cho số lượng nhiều và nó thường được ghép với những từ chỉ thực vật như rừng cây, rừng thông, rừng già, rừng lau, rừng cọ…thì ở trên từ rừngđược kết hợp với chữđể tạo thành “rừng chữ”là một điều rất lạ. Người đọc cảm nhận được sự mới mẻ trong hình thức ngữ nghĩa vì thế hiệu quả của ý thơ được nâng lên rất nhiều. Trong thời đại thông tin được mã hóa bằng kĩ thuật số thì việc tìm ra con chữ trong vô vàn con chữ để sáng tác quả là rất khó. “Rừng chữ”ở đây được hiểu theo cấp số nhân, con chữ được sản xuất trên bàn phím máy tính, của công nghệ photo- copy…Trước sự phát triển chống mặt của thời đại mới, có lẽ nhà thơ cũng phần nào cảm thấy hoang mang, khó khăn tìm được con chữ hay để sáng tác. Nếu không tĩnh táo thì cái Ta ấy sẽ dễ để lạc mất mình trong thế giới của xa lộ thông tin. Cách dùng tự lạ hóa này còn được nhà thơ sử dụng tiếp ở bài thơ sau:

                      …Như đã rất xa

                       Cơn chóng mặt trên sân trời Empire State Buiding

                       Thăm thẳm vực sâu giữa rừng cao ốc….

(Câu cá trên vịnh Mexico- Hoàng Hưng)

Để miểu tả cơn chóng mặt vì độ cao, tác giả dùng hình ảnh đối lập “ Thăm thẳm vực sâu”để tạo sự tương phản về độ cao của các tòa nhà hiện đại. Nhà thơ sử dụng cụ từ “ rừng cao ốc” quả là rất mới trong việc khơi gợi hình ảnh. Thay vì dùng “nhiều tòa nhà cao tầng” bằng “rừng cao ốc”vừa hàm súc nhưng lại tạo khả năng liên tưởng rất cao. Ta lại bắt gặp trong câu thơ Hoàng Hưng nhiều cụm từ lạ như “ Giờ của thong linh” hay “ Đêm bốc cháy/ Những mảnh đêm rơi”,“ Đô thành treo ngược”, “ Dứt tung tay”….Có thể đây là những hình ảnh mà con người có thể cảm nhận được từ cuộc sống nhưng khó để diễn tả được bằng từ ngữ cụ thể, thì đấy cũng là một cách tác giả giúp người đọc có những cảm nhận của riêng mình. Ngôn ngữ thơ Hoàng Hưng vì thế hội tụ được nhiều yếu tố của ngôn ngữ thơ vừa hàm súc, đa nghĩa, giàu tính hình tượng, tính biểu cảm, đặc biệt là sự lạ hóa. Đấy chính là những minh chứng cho một tâm hồn thơ bình lặng chất chứa nhiều nỗi niềm nhưng cũng luôn hướng đến những điều mới mẻ.

Đi sâu khám phá thế giới ngôn ngữ thơ Inrasara, chúng ta cảm nhận sự lạ hóa ngôn ngữ ở nhà thơ này cũng mang nét đặc thù riêng. Người đọc thấy sự lạ ấy như trò xiếc chữ, tung hứng chữ bằng những câu thơ không vần điệu. Ngôn ngữ hậu hiện đại theo Inrasara “không còn sự lựa chọn kĩ lưỡng, đẹp và thơ mộng đầy tính văn chương”. Chúng ta có thể thấy được sự lạ hóa ngôn ngữ trong thơ ông qua bài thơ sau:

“Lang  thang mãi  khu  rừngnguyênsinhem/anh có tin vào rừngphìnhiêuem?/chỉ có rừngphìnhiêuemlà tặng vật của suối nguồn/chỉ đồngmẫuhệnhiệmmàuemlà mùa vàng vô tận”

…“lang thang mãi khu rừng nguyên sinh em

                                   anh có tin vào rừng phì nhiêu em?

                                  chỉ rừng phì nhiêu em là tặng vật của suối nguồn

                                  chỉ có rừng phì nhiêu em là tặng phẩm của suối nguồn

                                  chỉ đồng mẫu hệ nhiệm mầu em là mùa màng vô tận”.

( Liên khúc chuyện vùng cao -Inrasara)

Nhìn vào văn bản gốc, chúng ta có thể thấy các chữ được viết liền nhau, kết dính nhau, trong tiếng Việt như vậy là chưa từng thấy. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết, nếu viết liền mạch như vậy sẽ tạo ra từ không có nghĩa. Sự phá cách trong ngôn từ ở bài thơ trên đúng đã tạo hiệu ứng lạ. Người đọc lúc đầu ngỡ không hiểu các chữ được kết dính nhau nhưng nếu nhìn thật kĩ thì cũng sẽ hiểu được nghĩa của nó. Phải chăng việc sử dụng từ ngữ không có khoảng cách để thể hiện cho dòng tâm tư, tình cảm của tác giả cứ muốn nó liên tục như thế, không mất đi mà in sâu vào tâm trí. Inrasara còn đem đến cho người độc sự thú vị trong việc làm lạ hóa ngôn từ ở bài thơ:

thế giới nghiêng

xiên/  miên /điên

…mỏng mòng mong

nhảm nhàm nham

   cũ cù cu/mu /xù/ gù

(Trưa, ngồi uống bia hơi một mình tại quán A Sồi, đọc hậu nhảm nhí tân thi trào, cảm thán- Inrasara)

Tác giả cho thấy cách làm lạ từ ngữ Việt rất đa dạng, chữ mang nghĩa không còn là trung tâm mà cách ghép chữ cho ra một nghĩa mới rất linh động. Inrasara hầu như không ngần ngại thử nghiệm nhiều yếu tố mới lạ vào việc cách tân thơ. Cho thấy một phong cách thơ đầy phóng túng, dứt khoát và tự tin.

                3.3.2.  Ngôn ngữ trò chơi – Phi lôgic

               Văn học hậu hiện đại là sự phá bỏ mọi giới hạn của nghệ thuật truyền thống trước đây. Nghệ thuật của nó chứa đựng những thủ pháp nghịch dị, nghịch lí…Trong thơ hậu hiện đại, ngôn ngữ vì thế được sử dụng như trò chơi và phi lôgic. Inrasara từng nói: “Ngôn ngữ thơ của các nhà thơ hậu hiện đại là lời nói thường, hơn nữa tầng lớp dưới đáy xã hội, chợ búa, vỉa hè. Khái niệm ngôn từ sang trọng, dơ hay sạch, xấu hay đẹp không còn tồn tại” [33, tr.202]. Xuất phát từ quan điểm đó nên Inrasara sáng tác thơ như là một trò chơi với ngôn ngữ. Thơ ông vừa mang âm hưởng và sắc thái của người Chăm nhưng cũng đồng thời rất hiện đại trong cách thể hiện. Thơ Inrasara như là sự thống nhất của phức tạp và hỗn độn. Ở mỗi bài thơ cũng có thể là những mảnh vỡ của ngôn từ. Có những thao tác của phân tách, chia nhỏ bài thơ thành những khía cạnh. Tạo thành những giao diện, hình thù, màu sắc, âm điệu rất đặc trưng. Ông còn sử dụng từng con chữ sắp xếp tạo thành những hình khối lạ mà theo nghệ thuật hậu hiện đại được gọi là thơ trình diễn.

 

Tao không muốn mầy làm thơ tình buồn

Tao không muốn mầy làm thơ tình

Tao không muốn mầy làm thơ

Tao không muốn mầy làm

Tao không muốn

Tao không

Tao

T

 

Đơn giản mầy là phụ nữ đã có chồng, con, có gia đình

Đơn giản mầy là phụ nữ đã có chồng, con

Đơn giản mầy là phụ nữ đã có

Đơn giản mầy là phụ nữ

Là của cải là đồ chơi

Đơn giản

 

Mầy còn muốn gì nữa

Mầy đã có cuộc sống no đủ

Mầy đã có tao

Đã có tao

Có tao

Tao

T ( Ở nơi ấy, nhà thơ Inrasara)

Nếu Hoàng Hưng xem ngôn ngữ như một trò chơi mang tính dị biệt, khó đoán định trong từng khuôn nghĩa mà cần sự khám phá có tính phức hợp từ phía người đọc. Ngôn ngữ thơ Inrasara đôi khi giống như lời trò chuyện. Nhà thơ kể lại cho bạn đọc nghe những câu chuyện mà ông góp nhặt được trong đời sống thường ngày với lối diễn đạt, ngôn ngữ hết sức dân dã, bình dị, gần gũi, thậm chí cả những lối nói xuề xòa nhất cũng đi vào thơ ông một cách tự nhiên: chửi; nhăn răng; xà lỏn; teo vòm vú; bồ nhí…

Những ngôn ngữ trên bàn nhậu cũng được Inrasara đưa vào thơ.“Dzô dzô dzô, hay “chơi tới bến đi em”…

                        Tuần lễ văn hóa Cà phê Sài Gòn cứ đông nghịt

                        Chơi tới bến đi em, chẳng có gì xảy ra, ở nơi ấy

                       Dzô                 dzô                  D Z Ô…

                       đã làm cú rút ngoạn mục vượt mặt Indo, Mã

                      Hồ Xuân Hương đẹp và Đà Lạt thơ

                     Festival Hoa Đà Lạt và Cuộc thi Hoa hậu các Dân tộc Việt Nam    diễn ra đúng ngày giờ

                      Dzô                   dzô                  D Z Ô…

 

(Ở nơi ấy, hảo hảo hảo – Inrasara)

Bài thơ trên tiêu biểu cho phong cách thơ tự do, phóng túng của Inrasara. Ở đó nhà thơ chọn ngôn ngữ địa phương đặc trưng của Sài Gòn. Ta bắt gặp những tiếng tung hô: Dzô dzô dzô, chơi tới bến đi em… Nhịp điệu thơ khi dồn dập dữ dội, có khi nhịp thơ co lại trầm lắng đầy suy tư rồi có khi lại giãn ra dài như vô tận. Chất liệu đời sống ngồn ngộn được ông tái hiện trong bài thơ với biết bao sự kiện đang diễn ra hằng ngày hằng giờ. Ta còn bắt gặp ngay cả tiếng rao của người bán lu dạo cũng vào thơ ông: “ai…lu, trã, nồi, trách…khôôông”. Những câu nói bình dân, suồng sã này không ai nghĩ có thể xuất hiện trong thơ nhưng nó lại được Inrasara sử dụng một cách rất tự nhiên. Ngoài ra, Inrasara còn hạn chế tối đa việc sử dụng dấu câu hay những liên từ (và, hay). Ông đưa vào thơ nhiều kí tự của bàn phím (/; -; &; [ ]) tạo những nhịp đứt gãy, ngắt quãng đầy chủ ý trong thơ. Ví dụ ở hai câu thơ sau, một câu tác giả dùng từ không dấu và câu còn lại dùng để giải nghĩa cho câu trên. Nhà thơ lí giải ngôn ngữ thời công nghệ thông tin nhiều khi cũng thật lắm trớ trêu như kiểu trò đùa. Nhiều sự hiểu lầm tai hại đã xảy ra chỉ vì thông tin truyền qua điện thoại bằng ngôn ngữ không dấu:

Duy chi co ong la giai ma duoc tho minh

     Tin nhắn ông bạn thơ qua điện thoại di động

(Thế giới trong ngày – Inrasara)

 

Thơ Hoàng Hưng tựu chung lại đậm chất siêu thực, hệ thống ngôn ngữ phi lôgic, nhập nhằng khó hiểu để tạo nên những ý tứ thơ tái hiện sự hỗn độn của hiện thực cuộc sống đa chiều. Nhiều bài thơ cho thấy sự mơ hồ giữa tầng vô thức và hữu thức:

“Chợt thấy chiều trên phố say. Đỉnh vú đi lừng lững. Đèn đuốc cháy lưng trời. Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm. Hội quỷ ma nhảy múa thét gào. Tan biến ta đi chiều mọc cánh…” (Đường phố 2- Hoàng Hưng)

Hiện thực trong câu thơ trên hiện lên mờ ảo, khó phân định và giải thích, cắt nghĩa là nhà thơ đang miêu tả đến thế giới nào. Hay đó là một thế giới tạp nham, lẫn lộn giữa cõi người và ma quỷ. Người đọc có cảm giác nhờn nhợn, mơ hồ và vô thức nhận ra một hiện thực rệu rã, tanh bành như chính ngôn từ tác giả sử dụng trong bài thơ sau:

“Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khoắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay.

Bão loạn. Múa vàng. Te tua. Nhừ giấc.

Bão loạn. Rùng rùng. Sặc nước. Giạt tóc. Liên tục địa sầm. Tìm, chết, đi.

Bão loạn. Dứt tung tay. Óc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm vóc miên mai.”

( Đường phố 1- Hoàng Hưng)

Hoàng Hưng đã tạo nên một chuỗi những hình ảnh, âm thanh, sắp xếp chúng cạnh nhau một cách phi lôgic. Những thứ giường như không liên quan đến nhau lại được tạo dựng thành một tổng thể. Nhà thơ làm cho bài thơ mang tính lạ, phi lí nhưng lại hàm chứa nhiều nghĩa mới. Tính phi lôgic ở đây là đem đến một cái nhìn mơ hồ, mông lung trước những cái hữu thể hiện ra trước mắt. Phương thức nghệ thuật ấy nhằm phục vụ tối đa cho cảm quan hậu hiện đại trong sáng tác của nhà thơ này.

Như vậy, nhìn từ phương diện ngôn ngữ, Hoàng Hưng và Inrasara đều cho người yêu thơ thấy khả năng sáng tạo độc đáo riêng. Hành trình sáng tạo đi tìm cái mới luôn đòi hỏi họ phải nỗ lực không ngừng. Người nghệ sĩ muốn tồn tại lâu dài và khẳng định được vị trí của mình trong xã hội, ngoài tài năng thiên bẩm luôn cần một niềm đam mê không ngừng nghỉ với nghệ thuật. Nghệ sĩ là phải độc trong sáng tạo, làm ra cái gì chưa hề có trước đó. Tuy rằng văn học hậu hiện đại chưa phải là mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà thơ thể nghiệm vì nhiều lí do chủ quan lẫn khách quan. Song chúng ta nên cổ vũ tinh thần tìm đến cái mới của nhiều nhà thơ hiện nay. Bởi chính họ sẽ tạo ra nguồn cảm hứng cho người đọc đến với thơ và gắn bó lâu dài với thơ. Nền thơ ca hiện đại đang rất cần những nhà thơ có tư duy mở đầy nhiệt huyết và xông xáo như Hoàng Hưng và Inrasara.

 

            3.3.3. Giọng điệu hoài nghi

           “Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm”…[16, tr.134]

Giọng điệu hoài nghi là một trong những giọng điệu chủ đạo của thơ hậu hiện đại. Phản ánh những mối lo lắng mang tính đa nghi hoang tưởng bằng nhiều cách, như sự hoài nghi đối với những gì mang tính cố định, mang tính toàn mĩ, số phận cá nhân trong xã hội đầy bất trắc….Các nhà thơ sáng tác thơ hậu hiện đại mang “Cảm thức hậu hiện đại là một lối cảm nhận về thế giới như là một hỗn độn, vô nghĩa, bất khả nhận thức; nơi mọi bảng giá trị đều đổ vỡ, mọi định hướng ý nghĩa đều vô ích. Con người không còn mang niềm tin vào những gì lâu nay họ từng tin” [50]

Giọng điệu hoài nghi trong thơ Inrasara cũng như Hoàng Hưng đã bộc lộ những cảm xúc bất an và sự mất phương hướng về thân phận cá nhân. Có lẽ cuộc đời này, không ai có thể trả lời được câu hỏi “ngày mai mình sẽ ra sao?”, không biết trước tương lai mình sẽ như thế nào, nhưng hầu như ai cũng hoài vọng về những điều tốt đẹp, những niềm hạnh phúc sẽ đến với mình. Còn Irasara lại thể hiện sự bất an, mất phương hướng về một viễn cảnh tối tăm trước mắt. “Có lẽ phía câm lặng số phận”, giọng thơ đầy bi quan cho thấy một cái tôi đầy hoài nghi cho tương lai của mình:

Tôi sẽ đi về đâu không biết

                                       Có lẽ phía câm lặng số phận

(Hành trình, 2001- Inrasara)

Hoàng Hưng cũng có chung giọng điệu ấy, bộc lộ qua bài America: “Ta là ai trên xứ sở này?/Vì sao ta tới đây? Ta làm gì? ta muốn gì?”. Cũng là những câu hỏi lớn về số phận mình, chông chênh và vô định giữa cõi đời, cõi người. Cái tôi ấy cảm thấy một nỗi cô đơn rất lớn, không ai hiểu mình, cảm giác như đang sống trong bóng tối không tri giác được mọi thứ xung quanh mình. Điều đó được ví như nhà thơ bị bỏ quên trong một thế giới đang ngủ. Mặc dù cái tôi ấy không tĩnh tại mà luôn vận động trong trạng thái “ Chạy” để được giao cảm với mọi thứ xung quanh. Nhưng sự tương tác như bị ngưng trệ càng khiến cái tôi ấy cô đơn đến bội phần. Thơ Hoàng Hưng luôn toát lên những sự buồn ẩn chứa từ trong câu chữ, đọc thơ ông chúng ta chạm tới những ám ảnh không nguôi khi bắt gặp giọng điệu hoài nghi khắc khoải vang vọng trong những âm điệu buồn:

Chạy một mình

                                                 Trong bóng tối

                                                 Bỏ quên tôi

                                                Cả thế giới

                                                Trái đất ngủ

                                               Một mình tôi…

(Chạy- Hoàng Hưng)

Cả Inrasara và Hoàng Hưng đều cho thấy rõ giọng điệu hoài nghi về hành trình sống và hành trình sáng tạo nghệ thuật của họ. Inrasara không chỉ biểu lộ giọng điệu hoài nghi ở khía cạnh thân phận cá nhân mà nhà thơ còn thể hiện nó ở phạm vi rộng hơn. Chủ thể trữ tình trong bài thơ “Thời gian của một lời xin lỗi” còn quan tâm đến những vấn đề lớn lao của quốc gia, dân tộc trên thế giới. Những vấn đề thời sự mang tính toàn cầu, những mối nguy hại mà con người đang phải đối mặt. Inrasara đặt ra những câu hỏi lớn mà không thể có câu trả lời thỏa đáng:

Dọc suốt chiều dài lịch sử của những đất nước

                                      còn bao nhiêu thế hệ bị đánh cắp

                                      trên mỏng mảnh mặt đất này?

                                      Ai biết?

                                      bên kia lời xin lỗi là gì

                                      phía sau lời xin lỗi là gì

                                      sau lời xin lỗi còn gì

( Thời gian của một lời xin lỗi- Inrasara)

Có thể nói, giọng điệu góp phần thể hiện phong cách sáng tác của mỗi nhà thơ, nhưng nó không phải là phương thức điển hình và nhất quán trong sáng tác của họ. Mỗi nhà thơ có nhiều giọng điệu thơ khác nhau, với mỗi bài thơ giọng điệu ấy được thể hiện không giống nhau nhằm mục đích chuyển tải những nội dung tư tưởng và cảm xúc khác nhau. Giọng điệu hoài nghi trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara là minh chứng đa dạng cho giọng điệu thơ hậu hiện đại. Giọng điệu ấy biểu lộ những sắc thái tình cảm khác nhau ở mỗi nhà thơ, qua đó góp phần mang đến những cảm xúc phong phú cho người yêu thơ.

3.3.4. Giọng điệu giễu nhại

              Mỗi thời kỳ văn học được quy định bởi một loại giọng điệu điển hình riêng. Đó là sự kết tinh giọng điệu của thời đại đã sản sinh ra nó. Mỗi tác phẩm, mỗi tác giả có một giọng điệu khác nhau, nhưng luôn thống nhất trong một khuôn giọng điệu cơ bản và chủ đạo của thời kỳ văn học ấy. Xuất phát từ cảm quan hậu hiện đại mà văn học hậu hiện đại rất ưu tiên cho giọng điệu giễu nhại.

             Giễu nhại với tư cách là một thủ pháp đã xuất hiện trong những tác phẩm văn học từ thời cổ đại. Trong các thời kỳ văn học sau đó, giễu nhại luôn được sử dụng với những sắc thái riêng. Giọng điệu giễu nhại chỉ là một phần của hình thức giễu nhại, hình thức trào lộng hay tiếu trào.Điều đó cho thấy giễu nhại không phải giọng điệu của thơ ca hậu hiện đại sản sinh nó.Các nhà thơ, nhà văn  vận dụng những gì sẵn có để biến tấu theo những dụng ý của riêng mình. 

Trong quá trình tìm hiểu thơ của Inrasara và Hoàng Hưng, chúng tôi nhận thấy một đặc điểm nổi bật ở thơ Hoàng Hưng là giọng điệu trầm buồn, nhiều suy tư và triết lí. Cũng vì thế thơ ông rất hiếm gặp giọng giễu nhại. Còn thơ Inrasara, khảo sát trong hai tập thơ “Chuyện bốn mươi năm mới kể & mười tám bài thơ tân hình thức và Ở nơi ấy [thơ thời cuộc]”,cho thấy nhà thơ này đã tìm đến thử nghiệm và sáng tạo với giọng điệu giễu nhại rõ nét. Inrasara dám giễu nhại, cười cợt tất cả những thứ xung quanh, kể cả chính mình. Một cách thức biểu lộ của quan niệm mới về hiện thực, trong một thời đại đầy hoài nghi, bất an, về thế giới phân mảnh với sự sụp đổ của những đại tự sự và sự lên ngôi của những tiểu tự sự.

Trước hết, ta bắt gặp sự giễu nhại trong thơ Inrasara hướng tới những đối tượng quanh mình. Bất cứ nhân vật nào dưới góc nhìn của ông cũng chứa đựng một chút mỉa mai, cười cợt, khôi hài, đầy chua chát. Trong “Trà Vigia”,cái nhìn của nhà thơ hướng vào những hiện tượng không bình thường của đời sống. Là câu chuyện của “kẻ” đã phải đối mặt với bệnh thận, căn bệnh hết sức nguy hiểm, hao tốn tiền của vào bệnh viện để chữa bệnh nhưng lại không ý thức được việc giữ gìn sức khỏe cho chính bản thân mình. Hằng ngày cứ uống rượu như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Câu chuyện mà nhà thơ nêu ra có lẽ rất phổ biến trong xã hội. Con người trong xã hội hiện đại phải đối diện với nhiều bệnh tật nguy hiểm, nhưng nhiều người lại không ý thức được vấn đề giữ gìn và bảo vệ sức khỏe cho mình. Nhà thơ còn nêu lên câu chuyện không bình của một kẻ có nhân cách không bình thường nhưng cuộc đời của hắn vẫn tươi đẹp. Cuộc sống với bao điều nghịch lí, dị thường đã được tác giả phơi bày với giọng điệu đầy mỉa mai, châm biếm:

Không bình thường chút nào kẻ hai lần mổ thận tại Chợ Rẫy với hai bận tận Sikhiu vẫn cứ chơi rượu gạo như chưa hay chẳng có gì xảy ra.

Không bình thường chút nào kẻ 5 ngày học tập cải tạo tại Việt Nam rồi 4 năm nằm trại Thái Lan vẫn cứ Phan Rang đẹp, cuộc đời & tình yêu đẹp hát vào những đỉnh trời.

( Chấm phá Trà Vigia- Inrasara)

Giọng điệu giễu cợt ấy đi sâu vào phản ánh nhiều khía cạnh của hiện thực đời sống. Nhà thơ đề cập đến sự giả tạo ở vẻ bề ngoài của những cá nhân hoặc cả tập thể. Trong “Phác thảo bề mặt cuộc sống”, Inrasara kịp thời chĩa ống kính vào đám đạo mạo với những cái mặt nạ như những cổ máy rôbốt cứng đờ vô cảm xúc chỉ vì muốn thể hiện sự trang trọng của bản thân. Theo tác giả, chính sự giả tạo ấy sẽ giết chết văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử giữa con người và con người:

                                        Những bộ mặt nghiêm trang nghiêm nghị

Tôi thấy chúng thật nghiêm trọng

               Bộ mặt cứng đờ núp sau mặt nạ trang trọng

                             Chúng đang giết chết văn hóa và làm thứ văn hóa chết.  

Cũng là đề cập đến vấn đề của văn hóa, trong bài “Cảm tác từ Phanrang” Inrasara lại giễu sự hô hào có phong trào của tập thể về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của cha ông. Đằng sau sự hô hào ấy lại là những hành động trái ngược chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân. Dưới nhiều hình thức khác nhau, nhiều kẻ sẵn sàng bán rẻ di sản văn hóa dân tộc để trục lợi cho bản thân. Nhưng vấn đề khôi hài là những kẻ đó lại “vẫn sống nhăn sống khỏe”.Đằng sau tiếng cười mỉa mai ấy hàm chứa sự đả phá sâu cay vào sự giả dối trắng trợn của con người. Đồng thời, cái hài hước trong thơ ông bộc lộ từ những mâu thuẫn trong chính bản thân đối tượng được nói đến. Inrasara thường đặt hai sự vật đối lập bên cạnh nhau để làm nổi bật sự khác biệt:

               Hô hoán bảo tồn di sản văn hóa cha ông/ mà ở mỗi hành vi mỗi suy nghĩ mỗi ngày/ anh miệt mài vùi chôn nó / Mấy đứa hốt bán từng mủng di sản văn hóa cha ông/vẫn sống nhăn sống khỏe

                                   (Cảm tác từ Phanrang-Inrasara)

 

Inrasara không chỉ giễu những con người xung quanh kể cả những người thân và mà ông đưa chính bản thân tác giả ra tự vấn dưới cái nhìn phản tỉnh đầy chua xót, hài hước. Truy vấn bản thân với tư cách là một nhà thơ, Inrasara tự thấy mình đôi khi làm thơ thật khôi hài, những giá trị của thơ đi đâu hết thay vào đó là những câu thơ nhảm, nhàm và sáo mòn. Ông tự cười mình để phản tỉnh. Tự truy vấn cũng là một cách để ông đi tìm lại những giá trị nghệ thuật đích thực cho thơ. Sáng tạo nghệ luôn đòi hỏi sự nghiêm túc, chu đáo cẩn trọng chứ không thể sự hời hợt, ảo tưởng:

Tôi ngáp đến ba lần

khi mới đọc qua hai câu thơ nhảm, nhàm, sáo

& mòn, ẩm & hụt hơi

Những câu thơ chết tiệt

bài thơ nói to…

… Khi tôi phải đọc thơ tôi vào…

Tôi như thể đang chết.

Bài thơ xong là thuộc về KHÁC

 

Inrasara còn cho thấy sự đả phá thái độ nghiêm cẩn đối với thơ và cả sự trịnh trọng của nhà thơ qua bài “ Một giấc nhà thơ”, ông còn cười vào sự đạo mạo của nhà thơ. Thi sĩ đả kích sự tẻ nhạt và mong muốn thay đổi một cách nhìn mới về nhà thơ:

 

Nhà thơ xách cặp đen   thắt cà vạt xanh

trên đường Lê Thánh Tôn

nhà thơ trung niên đi quẹo vào siêu thị

nhà thơ thắt cà vạt                     sắp thắt cổ

Trang trọng

Nhà thơ xách cặp đen đi ra với bó hoa khá to

ngập ngừng. Rút từ túi áo vét môbai

đăm chiêu. Nhà thơ bước lên taxi màu lam (…)

(…) Trưa. Nhà thơ quành sang đường Lê Lợi

vẫn cặp đen

tôi không còn nhìn thấy bó hoa

không cả cà vạt xanh

Hú vía.

(Một giấc nhà thơ-Inrasara)

 

               Inrasara đã thể hiện một cái nhìn bỡn cợt bằng những câu chữ chứa nhiều khoảng trống, những dấu chấm lửng, những hình ảnh được lặp đi lặp lại, nhằm tạo ra tiếng cười đầy ngụ ý cho bài thơ. Đó là tiếng cười đánh vào tâm lí của những người muốn nâng tầm quan trọng của mình với tư cách là một nhà thơ. Có lẽ đối với Inrasara nhà thơ nên là người giản dị, tự nhiên với những gì mình có. Ấy thế thơ mới thoát thai từ cuộc sống muôn màu, không phô trương, bóng loáng mà phải chân thật và tự nhiên nhất. Tác giả đã thể hiện điều này bằng một giọng điệu vô cùng “tự do”, một loạt các từ “tự do”được lặp đi lặp lại trong bài thơ dưới đây đã tạo ra một giọng khôi hài thực sự.

Các người chưa đủ trình độ tự do, chúng nói

Chúng tao đang lên đề án nghiên cứu tự do

sắp mở các cuộc hội thảo về tự do

Chúng tao sẽ viết chữ Tự DOthật to thật đậm

Sẽ treo Tự DOđầy đường sá thành phố thôn quê

Sẽ hô rất to khẩu hiệu tự do

Và nhân dân chúng tao sẽ hô khẩu hiệu tự do

Rất to

 

Cho chúng bây                          biết mặt.

(Ở nơi ấy, cuộc sống theo đuôi-Inrasara)

 

Như vậy, có thể khẳng định, giọng điệu giễu nhại là giọng điệu đặc trưng trong thơ Inrasara thời kì sau này. Giọng điệu giễu nhại đã từng xuất hiện từ lâu trong văn học Việt Nam. Trong nền thơ ca mới, giọng điệu này tiếp tục chiếm lĩnh trong của Bùi Giáng, Bùi Chát, Lý Đợi…Tuy vậy, đến Inrasara thủ pháp này được sử dụng thường xuyên với nhiều biến tấu đa dạng và đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Để tạo ra giọng điệu giễu nhại, Inrasara đã sử dụng thủ pháp lặp rất hiệu quả vừa tạo được điểm nhấn về nhịp điệu vừa tạo nên chất khôi hài, u mua. Inrasara vận dụng tối đa giá trị của thủ pháp lặp từ, lặp câu, lặp ý, lặp con số… Bên cạnh đó, nhà thơ còn sử dụng hàng loạt câu thơ ngắn, dài được chia thành những vế nhỏ, rời rạc với cách ngắt nhịp độc đáo tạo ra một cảm giác nham nhở như chính cuộc sống đầy khôi hài và biến động. 

 

 

 

 

 

Tiểu kết

Phương diện nghệ thuật là cách thức để người nghệ sĩ thể hiện tư duy sáng tạo nghệ thuật của mình. Văn học hậu hiện đại vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật mới và phức tạp là một trở ngại cho việc tiếp nhận. Do vậy thơ hậu hiện đại ở Việt Nam đang được đón nhận với nhiều luồng ý kiến trái chiều. Có khen có chê, thậm chí có nhiều người dị ứng với nó. Chung quy lại đó lạ sự di ứng với cái mới, cái mới chưa được hiểu rõ tường tận về nó. Đây cũng là lí do khiến nhiều nhà thơ ngần ngại dấn thân với hậu hiện đại. Tuy vậy, nhiều nhà thơ đã mạnh dạn thể nghiệm nó bằng cách vận dụng một số thủ pháp cơ bản vào việc sáng tác. Hoàng Hưng và Inrasara, trên hành trình sáng tác và cách tân thơ đã mang được những dấu ấn hậu hiện đại vừa biểu hiện về mặt cảm quan vừa ở phương diện nghệ thuật. Khi nhìn nhận về phương diện nghệ thuật, Inrasara cho thấy khả năng vận dụng khá linh hoạt và nổi trội hơn so với thơ Hoàng Hưng. Điều đáng nói ở đây là Inrasara đã xóa nhòa ranh giới thân phận của một nhà thơ dân tộc thiểu số để chứng tỏ bản lĩnh tài hoa, cá tính, luôn nỗ lực đem cái mới vào nền văn học nước nhà.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

  1. Đổi mới phương thức nghệ thuật là một quy luật tất yếu để văn học phát triển. Đổi mới không chỉ để phù hợp với hoàn cảnh tư duy thời đại, để đáp ứng khả năng diễn đạt trước những cái mới đang phát sinh, mà quan trọng hơn, nó chính là sự đột phá để kiến tạo nên cái mới. Người đọc không chấp nhận sự sáo mòn, cũ kỹ thế nên đổi mới phải đi đôi với sự hấp dẫn, lý thú, kích thích được sự đồng sáng tạo của người thưởng thức.  Đối với  thơ ca Việt Nam đương đại, việc đổi mới này đang diễn ra trên nhiều mặt. Từ đội ngũ sáng tác với những tư duy mới, đã tạo ra sự đổi mới về hình thức thể hiện và nội dung phản ánh. Sự tiếp biến trên nền thơ ca cũ cùng với sự lĩnh hội những cái mới từ bên ngoài có chọn lọc, đã và đang tạo cho bức tranh thơ Việt sự đa dạng trong thời kì hội nhập toàn cầu. Trong đó, chủ nghĩa hậu hiện đại khi ra đời đã có sức ảnh hưởng lớn là khả năng lan tỏa mạnh mẽ đi vào Việt Nam như một lẽ tự nhiện. Nhiều nhà thơ đã không ngần ngại tiếp nhận nó để sáng tạo nghệ thuật. Chính vì vậy, những dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt hiện nay, là sự vận dụng những thủ pháp của nó về mặt hình thức gắn với cảm quan trong nội dung thể hiện. Mặc dù, nền văn học nước nhà chưa thể hội tụ những điều kiện cần thiết để hậu hiện đại trở thành một trào lưu hay khuynh hướng sáng tác chính thống. Song với sự nhanh nhạy của đội ngũ phê bình nghiên cứu tạo những tiền đề cho việc ứng dụng lí thuyết này vào sáng tác và tiếp nhận. Là động lực để đội ngũ văn nghệ sĩ mạnh dạn thử sức trên sân chơi mới này. Hoàng Hưng và Inrasara là hai gương mặt tiêu biểu đã gặt hái những thành công ở lối thơ hậu hiện đại. Hành trình sáng tác của họ và những nỗ lực cách tân thơ với mong muốn cống hiến cho nền thơ ca nước nhà những giá trị mới.
  2. Văn học hậu hiện đại với đặc trưng về mặt nội dung là thể hiện cảm quan hậu hiện đại của người nghệ sĩ. Cảm quan trước thực tại hỗn độn với những sự phi lí trong đời sống của xã hội hiện đại. Thời đại toàn cầu hóa của công nghệ thông tin tạo ra thế giới phẳng. Thế giới ảo trong thực khiến cho con người đánh mất đi bản thể của mình. Các mối quan hệ tốt đẹp của truyền thống dần bị phá vỡ. Mọi giá trị đích thực đang bị đe dọa, sự giả dối và ngụy tạo lên ngôi.  Đứng trước thực tại ấy, Hoàng Hưng và Inrasara với tâm hồn nhạy cảm họ đã phản ánh hiện thực cuộc sống thời đại theo những cách riêng của mình. Hoàng Hưng cho thấy  những suy tư mang tính chiều sâu về thân phận con người và cuộc đời. Thơ ông luôn phản cái nhìn sâu sắc và giàu triết lí về cuộc sống. Inrasara lại thể hiện một thế giới quan đầy cởi mở và khá toàn diện về cuộc sống. Khả năng thâm nhập đời sống xã hội trong nước cũng như trên thế giới rất nhanh nhạy. Ông cho mọi người thấy một tư duy sắc bén và một năng lượng dồi dào trong sáng tác. Inrasara được xem là một hiện tượng của sự nỗ lực và bứt phá trong sáng tác nghệ thuật của nền thơ ca Việt Nam đương đại. Có thể khẳng định rằng, cả hai thi sĩ Hoàng Hưng và Inrasara đều bộc lộ những cái nhìn mới về thế giới ngày nay, một cảm quan mới, cảm quan hậu hiện đại.
  3. Các nhà hậu hiện đại không kêu gọi nỗ lực cách tân bởi quan điểm của họ về sự sáng tạo những cái mới là một thuộc tính căn bản của nghệ thuật. Do vậy, các nhà thơ hậu hiện đại không gây nên phong trào, không tạo thành nhóm hay trường phái mà mỗi người tự chơi một trò chơi riêng của mình. Họ quá kì công tạo nên những kỹ thuật hoàn toàn mới mà rất thoải mái tái sử dụng tất cả những gì có sẵn trong kho tàng văn chương nhân loại. Thế nhưng với cảm thức hậu hiện đại thì công việc tái sử dụng lạitrở thành công việc sáng tạo thực sự.

Thơ hậu hiện đại đang là một sân chơi để các nghệ sĩ có cơ hội thể bản thân. Inrasara tuy là một nhà thơ dân tộc thiểu số nhưng bằng tài năng và sự nhạy bén với thời cuộc, ông đã gặt hái được những thành công nhất định. Hành trình sáng tạo thơ của Hoàng Hưng và Inrasara là những nỗ lực cách tân không ngừng. Mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, mỗi hoàn cảnh sống khác nhau. Mỗi người có một cá tính riêng làm nên phong cách riêng. Đến với thơ hậu hiện đại, hai ông đã có sự gặp gỡ nhau trong việc vận dụng những thủ pháp nghệ thuật cũng như lựa chọn hình thức biểu hiện. Cụ thể đó là sự nới rộng về biên độ của thể loại, ngoài thơ truyền thống có sự giao thoa giữa thơ không vần, thơ có tính tự sự như thơ Tân hình thức và thơ văn xuôi. Kết cấu thơ, ngôn ngữ giọng điệu đều thể hiện được những dấu ấn của hậu hiện đại. Tuy nhiên đi vào thế giới thơ của từng người, chúng ta có thể thấy những góc phản chiếu đậm nhạt khác nhau, những vênh lệch tạo nên dấu ấn cá nhân của mỗi người. Xét về điểm xuất phát trên hành trình sáng tác, Hoàng Hưng được xem là đàn anh so với Inrasara. Nhưng vì những lí do chủ quan lẫn khách quan trên hành trình cách tân thơ Inrasara được xem là người trội hơn. Chính internet, văn học mạng phát triển là con đường ngắn nhất tạo điều kiện cho các nhà văn có thể “nhảy thẳng vào văn chương hậu hiện đại, mà không phải đi xuyên qua hiện đại”. Inrasara cho thấy tiếp cận cái mới rất nhanh với một tư duy vô cùng nhạy bén vì thế đã sớm khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn Việt. Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Inrasara phản ánh khá toàn diện từ cảm quan sáng tác cho đến việc vận dụng các thủ pháp nghệ thuật của nó. Cùng với đội ngũ sáng tác khá hùng hậu hiện nay, có thể nói những cống hiến của hai nhà thơ này rất đáng được ghi nhận. Như vậy, trong luận văn này, chúng tôi đã đưa ra những cái nhìn khái quát nhất về thơ hậu hiện đại Việt Nam nói chung và tinh thần hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara nói riêng. Đề tài“Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Hoàng Hưng và Inrasara”, hy vọng sẽ là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai muốn khám phá thế giới thơ của hai nhà thơ này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Appignanesi R. (2006), Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
  2. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh( sưu tầm và biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới- những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn và trung tâm văn hóa ngôn ngữ phương Tây.
  3. Đào Tuấn Ảnh ( 2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 8, tr.43-59
  4. Phan Tuấn Anh (2013), “Ngôn ngữ nhị phân – đặc điểm kiến tạo văn hóa nghệthuật hậu hiện đại”, trong sách Ngữ học toàn quốc2013 – Diễn đàn học tập vànghiên cứu, Hà Nội.
  5. 5. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, NXB Thanh niên.
  6. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
  7. Barthes R. (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
  8. Baird F.E. (2006), Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
  9. Lê Huy Bắc (2004), Phê bình – Lý luận văn học Anh Mỹ (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  10. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại – Lý thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư pham Hà Nội.

11.Lê Huy Bắc (chủ biên) (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội.

  1. Nguyễn Phan Cảnh (1991), Ngôn ngữ thơ,NXB Đại học Giáo dục chuyên nghiệp.

13.Hoàng Cầm(1999), “Hoàng Hưng đi tìm mặt”, trích trong Văn xuôi Hoàng Cầm,  NXB Văn học.

  1. Nguyễn Văn Dân(2012), “Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí Văn học nước ngoàisố 8
  2. Lưu Thị Thùy Dung (2013), Tinh thần hậu hiện đại trong thơ Inrasara, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, chuyên ngành lí luận văn học, trường đại học Quốc gia Hà Nội.
  3. Lê Thị Việt Hà(2009),Hành Trình cách tân thơ của Inrasara, luận văn thạc sĩ, ngành lí luận văn học; Đại học Vinh.
  4. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học,Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.131.

18.Hoàng Hưng(1994),  Người đi tìm mặtVăn hoá Thông tin, Hà Nội.

19.Hoàng Hưng( 2005) ,Hành trình, Hội Nhà văn, Hà Nội.

20.Hoàng Thị Huế, Nguyễn Thị Thuỷ (2010), “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Inrasara”,Tập san của Sở giáo dục và đào tạo Thừa Thiên Huế.

21.Hoàng Thị Huế( 2014), “Thơ Việt đương đại nhìn từ hành trình cách tân thơ ca” Tạp chí nghiên cứu Văn học.

22.Hoàng Thị Huế(2016) “Ánh xạ từ biểu tượng cái tôi trong thơ Việt đương đại”,Tạp chí khoa học Huế, số 5/ 2016.

23.Hoàng Thị Huế(2016), “Huyền thoại về lửa trong thơ Việt đương đại”, Tạp chí khoa học, đại học Sài gòn,tháng 10.

24.Khế Iêm (1999), “Chú giải về thơ tân hình thức”, Tạp chí Thơ, 15, tr.93-104.

25.Jean-Francois Lyotard (2008), Hoàn cảnh hậu hiện đại, Nxb Tri thức, Hà Nội.

26.Ilin I.P. và E.A. Tzurganova, chủ biên,… (2003), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20(Đào Tuấn Ảnh và… dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

27.Inrasara (2006), Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài tân hình thức, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

28.Inrasara (2008), Song thoại với cái mới, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

29.Inrasara (2015), Thơ Việt, hành trình chuyển hướng say, Nxb Thanh niên.

30.Lê Thị Tuyết Lan, Nguyễn Thị Thu Hương(2008),Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Inrasara,  trường đại học KHXH & NV TPHCM.

31.Phong Lê(1994), “Văn học trong hành trình và con người” in trên Nxb Lao Động.

32.Phương Lựu ( 2011), Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm.

33.Phương Lựu (2000), “Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại”, Tạp chí Nhà văn, số 8

34.Phương Lựu (2001), Những lằn ranh văn học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

35.Phan Ngọc (2002), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

36.Lê Hồ Quang (2012) “Thơ Hoàng Hưng-Một vuông trời một thế giới”, Tạp chí thơ,số 2.

37.Trần Quang Thái (2006), Chủ nghĩa hậu hiện đại, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

38.Nguyễn Thị Minh Thái(1996), Đối thoại với văn chương, Nxb Hội nhà văn.

39.Hoài Thanh, Hoài Chân(2006), Thi nhân Việt Nam 1932- 1945, Nxb Văn học.

40.Lưu Khánh Thơ (2006), Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

41.Nguyễn Văn Thuấn (2013), Liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp, Luận án tiến sĩ, chuyên ngành lý luận văn học. tr 8

42.Nguyễn Hoàng Diệu Thúy(2008), “Nhà thơ Hoàng Hưng: Không làm được Thơ là coi như thất bại”,Doanh nhân Sài Gònngày 22 tháng 5.

43.Võ Thị Hạnh Thủy(2008), Thế giới nghệ thuật Thơ Inrasara, luận văn thạc sĩ ngữ văn; ngành văn học Việt Nam hiện đại ; Đại học Vinh.

44.Văn Giá (2012), “Về một nỗ lực làm mới thơ Việt”, Tạp chí Sông Hươngsố 280

45.Nhiều tác giả (2005), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.715.

Tạp chí và Báo điện tử

  1. Kim Anh(2013) “Hoàng Hưng: “…Chưa đến mức là không làm thơ được nữa…” Website: https://sites.google.com/site/vanhocviet2013/tap-chi)

47.Hữu Đạt(1996) “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”,Website:https://sachviet.edu.vn/threads/ngon-ngu-tho-viet-nam-nxb-giao-duc-1996-huu-dat-275-trang.19557.

48.Hoàng Ngọc Hiến(2003) “Đào tạo viết văn ở trường đại học”,Website: vietvan.vn 8/2013.

49.Inrasara(2009) “ Đặng Thân khai mở dòng thơ phụ âm Việt”, Website:tienve.org 8/2/2009.

  1. Inrasara(2009), “Ở nơi ấy[ thơ thời cuộc]”, Website: http://wwwInrasara.com
  2. Inrasara (2009), “Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại”,Website: http://tienve.org].

52.Inrasara: Vài giải minh qua ngộ nhận về hậu hiện đại Việt Nam,Website:

Inrasara.com/2012/09/05/inrasara-vai-giai-minh-qua-ngo-nhan-ve-hau-hien-dai-viet-nam/

53.Inrasara “Hậu hiện đại và thơ hậu hiện đại: Một phác họa”, Website: http://4phuong.net/ebook/47372387/hau-hien-dai-tho-hau-hien-dai-viet-mot-phac-hoa-2.html

54.Ngô Minh(2016) / “vai-suy-nghi-ve-tho-tan-hinh”-Website:https://ngominhblog.wordpress.com/2016/01/20/12040/amp/

55.Nguyễn Hữu Hồng Minh với bài “Vùng Hoàng Hưng” đăng trên trang Talawas, năm 2003.

56.Đỗ Ngọc Quyên, “Nhà thơ Hoàng Hưng và những vần thơ cháy lòng”, Website: http://vanhocquenha.vn/van-chuong-va-du-luan/nha-tho-hoang-hung-va-nhung-van-tho-chay-long-126562.html

57.Đỗ Quyên, (2016)“Tân hình thức Việt kể sao hết được”.Website: http://vanhaiphong.com/ly-luan-phe-binh/2522-2016-01-25-08-04-35.html

58.Đỗ Quyên(2010), “Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt”,Tạp chí Sông Hương số 257 tháng 7/2010,Website: tapchisonghuong.com.vn

  1. Đỗ Quyên(2009), “Tân hình thức – Ba bài thơ và các bình luận”,Website: damau.org 26/10/2009.

60.Đặng Tiến, “tuyển tập Blank Verse – Thơ không vần”, Website: talawas.org  61.Hồ Đăng Thanh Ngọc(2016), “Thơ tân hình thức Việt – Tiếp nhận & Sáng tạo”  Website: http://netvietnet.org/tho-tan-hinh-thuc-viet-tiep-nhan-sang-tao-ho-dang-thanh-ngoc.html)

  1. Tổng quan về liên văn bản, Website:http://tailieu.vn/doc/luan-van-tong-quan-ve-lien-van-ban–1554848.html

63.Thơ Việt Nam, Website: wikipedia.org.8/2017

  1. Khế Iêm; “Tân hình thức, Tứ Khúc và những tiểu luận khác”, ebook trên Website: thotanhinhthuc.org.

65.Tạp chí Thơ số 20, tr. 70, và Khế Iêm, tạp chí Thơ số 18, tr. Website: http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=8983

66.“Hành trình tinh thần của một nhà thơ” Tham luận tại hội thảo “Thơ Việt Nam đương đại”, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, TP Hồ Chí Minh . Website: http://vietvan.vn/vi/bvct/id359/Hanh-trinh-tinh-than-cua-mot-nha-tho/

67.Trần Hoài Nam(2010),“Inrasara từ quan niệm đến phong cách”,luận văn thạc sĩ khoa học ; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Website: http://inrasara.com/2010/11/20/tr%E1%BA%A7n-hoai-nam-inrasara.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s